Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2009

Cao huyết áp

Cao huyết áp

BS NGUYỄN THANH SƠN

(Trung tâm Ðào tạo & Bồi dưỡng cán bộ y tế TPHCM)

Ðược xác định là cao huyết áp khi huyết áp có mức cao nhất lớn hơn 14 và mức thấp nhất lớn hơn 9. Cao huyết áp còn được gọi là "tên giết người âm thầm" vì sau một thời gian huyết áp cao mà không được chữa trị sẽ dẫn đến tổn thương một số cơ quan trong cơ thể, chủ yếu là mạch máu, tim, thận, não và có thể làm người bệnh chết sớm. Triệu chứng chỉ xuất hiện ở cao huyết áp có biến chứng. Với biến chứng ở tim, người bệnh leo lầu cao, làm việc thấy mau mệt, tối ngủ phải kê đầu cao. Với biến chứng ở thận, người bệnh thấy mệt, yếu, phù chi, tiểu ít. Ngoài ra, trong cơn cao huyết áp cấp, người bệnh có các triệu chứng: Nhức đầu dữ dội, mờ mắt, ói mửa, co giật, lơ mơ hay hôn mê, đây là triệu chứng đe dọa tính mạng nếu không được cấp cứu kịp thời ở bệnh viện. Do đó để biết có cao huyết áp hay không chỉ có cách duy nhất là đo huyết áp bằng huyết áp kế.

Phân loại cao huyết áp:

Cao huyết áp diễn tiến qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu là cao huyết áp dao động. Huyết áp thỉnh thoảng lên cao do các kích thích như uống rượu, lo âu... Sau một thời gian, huyết áp thường xuyên tăng cao được gọi là cao huyết áp thực sự. Người ta dựa vào trị số nhỏ của huyết áp để chia cao huyết áp làm bốn loại: Cao huyết áp nhẹ (trị số nhỏ: 9-9,9), cao huyết áp vừa (trị số nhỏ: 10-10,9), cao huyết áp nặng (trị số nhỏ: 11-11,9), cao huyết áp rất nặng (trị số nhỏ >12). Nếu không được điều trị, chỉ khoảng 5% người cao huyết áp rất nặng và 10% người cao huyết áp nặng có thể sống được một năm.

Mức độ trầm trọng của cao huyết áp còn tùy thuộc vào người đó có yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch hay không (béo phì, hút thuốc nhiều, tiểu đường, lượng Cholesterol máu cao).

Chữa cao huyết áp như thế nào ?

Ngoại trừ các trường hợp cao huyết áp rất nặng và cần phải điều trị ngay, người ta thường bắt đầu điều trị bằng cách thay đổi lối sống như giảm cân nặng, thay đổi chế độ ăn (bớt muối, bớt ngọt, giảm thực phẩm giàu Cholesterol), tập thể dục đều đặn, giảm uống rượu, bỏ hút thuốc. Nếu 4-6 tháng, huyết áp không giảm mới bắt đầu điều trị bằng thuốc.

Khi điều trị bằng thuốc, có nghĩa là bạn phải uống thuốc suốt đời, bác sĩ sẽ điều chỉnh thuốc tùy theo mức độ huyết áp, uống thuốc thất thường hoặc tự y ngưng thuốc sẽ nguy hiểm cho sức khỏe.

Kiểm tra định kỳ để theo dõi biến chứng của cao huyết áp như kiểm tra đáy mắt, đo điện tim, thử máu, thử nước tiểu...

HƯỚNG DẪN DÀNH CHO NGƯỜI CAO HUYẾT ÁP

Cao huyết áp còn gọi là tăng huyết áp và khái niệm thường dùng trong dân chúng là bệnh tăng xông (tension)

Cao huyết áp là bệnh lý thuờng gặp trong cộng đồng và gia tăng theo tuổi. Chiếm 8-12% dân số.Một số yếu tố nguy cơ làm gia tăng nguy cơ cao huyết áp như tiều đường, thuốc lá, tăng lipid máu, di truyền.Cao huyết áp là bệnh lý gây tử vong và di chứng thần kinh nặng nề như liệt nữa người, hôn mê với đời sống thực vật, đồng thời có thể thúc đẩy suy tim ,thiếu máu cơ tim làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sống ( không cảm thấy khoẻ khoắn, mất khả năng lao động) và gia tăng khả năng tử vong.Do đó điều trị huyết áp cao là vấn đề cần lưu ý trong cộng đồng vì những hậu quả to lớn của nó.

Ngày nay với sự tiến bộ về kỷ thuật chẩn đoán (máy đo huyết áp phổ biến rộng rãi) và càng có nhiều loại thuốc điều trị ít tác hại, việc điều trị đã mang đến cho bệnh nhân sự cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm đáng kể tử vong và các di chứng(liệt nữa người, suy tim) do cao huyết áp gây nên.

Người bệnh cao huyết áp cũng cần quan niệm rằng cần phải chấp nhận việc điều trị tốn kém lâu dài để đổi lấy một cuộc sống an toàn. Cao huyết áp thường không triệu chứng do đó nhiều người chỉ nhận ra bản thân họ bị cao huyết áp khi họ bị tai biến mạch máu não (còn gọi là đột quî). Không thể căn cứ vào triệu chứng nhức đầu, chóng mặt để uống thuốc hạ áp bởi vì nhức đầu, chóng mặt không phải thường xuyên xuất hiện khi huyết áp tăng cao đột ngột và các triệu chứng này có thể gặp ở bệnh lý khác( ví dụ nhức đầu do căng thẳng,viêm xoang, và chóng mặt có thể do tụt huyết áp...).Tốt nhất nên thường xuyên kiểm tra huyết áp định kỳ với những người chưa cao huyết áp và khi nghi ngờ cao huyết áp cần đo huyết áp nhiều lần .Nếu huyết áp vẫn cao thì nên bắt đầu biện pháp điều chỉnh cách sống(tập thể dục, cai thuốc lá, điều chỉnh chế độ ăn) và xem xét điều trị thuốc.

Huyết áp không phải là con số hằng định

Trị số huyết áp thay đổi rất nhiều khi có yếu tố tác động như tâm lý(lo âu, sợ hãi, mừng vui...) vận động(đi lại , chạy nhảy) hoặc môi trường (nóng lạnh), chất kích thích(thuốc lá, càphê, rượu bia) và bệnh lý (nóng sốt, đau đớn).Trong những trường hợp trên, huyết áp thường tăng cao hơn bình thường.Ví dụ huyết áp của bạn lúc nghỉ thường 130/80mmHg khi bạn lên cầu thang lầu 3,nếu bạn đo huyết áp ngay thì trị số huyết áp của bạn có thể 150/80-180/90mmHg.Trong những trường hợp này không thể cho rằng bạn bị cao huyết áp.Do đó tốt nhất bạn phải nghỉ ngơi ổn định trước khi đo huyết áp nếu bạn muốn có trị số huyết áp trung thực và phải đo nhiều lần sau đó tính trung bình sau 3 lần đo.Bạn cũng đừng thắc mắc nhiều nếu huyết áp trước đó khác với trị số bây giờ.

Nhịp sinh học huyết áp của bạn thường dao động rõ rệt, huyết áp thường cao dần từ lúc bạn thức giấc và gia tăng tùy theo bạn vận động hoặc căng thẳng hay không. Vào chiều tối khi bạn nghỉ ngơi thư giãn huyết áp xuống nhẹ và sẽ xuống thấp nhất khi bạn ngủ say vào ban đêm cho đến gần sáng.Các nghiên cứu ghi nhận rằng ở người cao huyết áp mà huyết áp không hạ vào ban đêm hoặc hạ quá mức hoặc tăng vọt vào buổi sáng đều là yếu tố bất lợi vì dễ bị đột quî do cao huyết áp.

Khi nào gọi là cao huyết áp ?

Người ta thường dùng khái niệm huyết áp tâm thu (hoặc huyết áp tối đa) cho trị số huyết áp trên và huyết áp tâm trương (hoặc tối thiểu) cho trị số huyết áp dưới.Ví dụ khi bác sĩ của bạn ghi huyết áp của bạn : 180/95mmHg tức là huyết áp tâm thu (hoặc tối đa của bạn là 180mmHg và huyết áp tâm trương (hoặc tối thiểu) là 95mmHg.

Khi trị số huyết áp tâm thu > 140mmHg và huyết áp tâm trương >90 mmHg được xem là cao huyết áp.Đối với người già, dạng cao huyết áp phổ biến là cao huyết áp tâm thu đơn thuần tức là chỉ số huyết áp tâm thu >160mmHg nhưng huyết áp tâm trương không cao(<90mmhg).

Ở trẻ em trị số huyết áp có thấp hơn quy ước của người lớn.

Cách đo huyết áp:

Để có trị số huyết áp đúng, việc đo huyết áp là bước chẩn đoán quan trọng nhất vì tránh được việc điều trị quá mức hoặc không đầy đủ.Cần đo nhiều lần và nhiều vị trí khác nhau (2 tay, 2 chân) để so sánh đôi khi phát hiện bệnh lý mạch máu ví dụ như trong teo hẹp eo động mạch chủ huyết áp chi trên cao hơn chi dưới.

Đo huyết áp cần thực hiện trong phòng yên tỉnh, trạng thái tinh thần thoải mái.Tư thế đo huyết áp thông thường là tư thế nằm và ngồi để làm sao băng quấn cánh tay ngang mức với tim.Băng quấn cánh tay(cuff) phải phù hợp kích thứơc cánh tay. Trẻ em cần có băng quấn cánh tay kích thước nhỏ hơn.

Hướng dẫn đo huyết áp:

Nên sử dụng máy đo huyết áp nào?

Máy đo huyết áp thủy ngân được xem là tiêu chuẩn. Ngày nay người ta giảm dần việc sử dụng máy đo huyết áp thủy ngân vì độc tính với môi trường.Các loại máy dạng đồng hồ thường phổ biến sử dụng trong giới thầy thuốc,trong khi đó các máy đo huyết áp điện tử thường sử dụng rộng rãi trong dân chúng vì dễ đo.Theo Uỷ Ban phối hợp quốc gia về cao huyết áp Hoa Kỳ(JNC)ø và Tổ chức Y tế Thế Giới(WHO), đối với máy đo huyết áp điện tử, chỉ nên sử dụng loại băng quấn cánh tay,không nên sử dụng cổ tay và ngón tay vì không chính xác.

Bạn có thể chọn máy đo huyết áp đồng hồ hoặc có thể máy đo điện tử để tự đo huyết áp ở nhà. Máy đo huyết áp đồng hồ thường kèm theo ống nghe thường giá rẽ hơn máy đo huyết áp điện tử nhưng đòi hỏi bạn phải được nhân viên y tế huấn luyện cách đo . Đối với máy đo huyết áp điện tử ưu điểm là dễ sử dụng , nhưng nhược điểm là các máy tại thị trường Việt nam chỉ có số ít Hãng như Omron là được kiểm định theo tiêu chuẩn Anh Mỹ.Khi chọn máy đo huyết áp điện tử các bạn nên chọn các loại máy đo huyết áp đã được các tổ chức uy tín kiểm định chất lượng. Hiện nay 2 tổ chức có uy tín trong kiểm tra chất lượng máy đo huyết áp là Hiệp hội cao huyết áp Anh quốc (British Hypertension Society) và Hiệp hội Phát triển Dụng cụ y tế Hoa kỳ (Association for Advancement of Medical Instrumentation).

Sau đây là một số máy đo huyết áp điện tử được khuyên dùng:

Loại tự động :

AND UA-767,và Sunbeam 7652

Omron HEM-711, Omron HEX -712

Omron HEM-705CP, Omron HEM-735C, Omron HEM-713C, Omron HEM -737 Intellisense,

Loại bán tự động(bơm tay) giá thành rẻ hơn:

AND UA -702, Omron HEM- 412C, Lumiscope 1065, Sunmark 144.

Một số máy có thể chấp nhận sử dụng:

Omron HEM 703CP, Omron M4, Omron MX2, Omron HEM-722C

Một số máy không chấp nhận sử dụng:

Philips HP5332, Nissei DS-175

Omron HEM 706, Omron HEM 403C

Bên cạnh đó một số máy ra đời sau này được cải tiến về chất lượng tốt hơn đã được bày bán trên thị trường nhưng chưa được kiểm định bởi 2 tổ chức trên. Do đó bảng trên đây chỉ có giá trị tham khảo.

Các xét nghiệm cần làm khi bạn bị cao huyết áp:

Xét nghiệm cơ bản đối với tất cả các bệnh nhân:

Tổng phân tích nước tiểu

Công thức máu toàn phần

Sinh hoá máu (kali, natri. creatinin, glucose, cholesterol toàn phần, HDL cholesterol)

ECG

Xét nghiệm tối ưu:

Độ thanh thải creatinine,vi đạm niệu, protein nước tiểu 24 giờ, calcium, axit uric , triglyceride lúc đói,LDL cholesterol, glycosolated hemoglobin, TSH,

siêu âm tim.

Xét nghiệm tìm nguyên nhân:

Huyết áp cao xãy ra >90% không tìm thấy nguyên nhân hay còn gọi là vô căn. Chỉ một số ít bệnh nhân cao huyết áp có nguyên nhân gây ra.Cao huyết áp có nguyên nhân cần nghi ngờ ở những bệnh nhân trẻ tuổi hoặc quá lớn tuổi, kém đáp ứng điều trị hoặc khởi phát cao huyết áp đột ngột. Do đó bác sĩ của bạn sẽ cho thêm những xét nghiệm tầm soát tốn kém hơn để tìm nguyên nhân của cao huyết áp và như vậy mới có thể giải quyết tận gốc nguyên nhân cao huyết áp.

Nếu huyết áp dao động nhiều có những cơn kịch phát kèm nhịp tim nhanh,vả mồ hôi, nhức đầu nhiều bác sĩ của bạn sẽ nghi ngờ khối u ở thượng thận tủy sẽ cho thêm các xét nghiệm: siêu âm thận tìm khối u vùng thượng thận và xét nghiệm catecholamine nước tiểu 24 giờ và chất chuyển hoá vanillyl madelic acid (VMA), chụp đồng vị phóng xạ MIBG

Nếu cao huyết áp kèm chênh lệch huyết áp chi trên và chi dưới hoặc mạch đùi khó bắt cần xem xét hẹp eo động mạch chủ .Có thể sử dụng siêu âm Doppler mạch máu ,chụp mạch máu chọn lọc DSA. chụp mạch bằng cộng hưởng từ(Magnetic Resonance Angiography).Những kỷ thuật này có thể sử dụng khi nghi ngờ hẹp Động mạch thận.

Các xét nghiệm Renin, Aldosterone và Cortisone cũng giúp ích nhiều trong xác định cao huyết áp do bệnh lý nội tiết tố như hội chứng Conn và Cushing...

Tại sao phải điều trị huyết áp cao?

Huyết áp cao thường gây tai biến nghiêm trọng như tử vong và hôn mê do tai biến mạch máu não, di chứng liệt nữa người, suy tim, thiếu máu cơ tim, suy thận, phinh bóc tách động mạch chủ... Do đó mục đích chính của điều trị cao huyết áp là để phòng ngừa những biến chứng này.

Thông qua trị số huyết áp được hạ bằng thuốc hạ áp chúng ta có thể nhận biết huyết áp có thể kiểm soát tốt hay không. Tốt nhất nên đưa trị số huyết áp về <>

Điều trị huyết áp cao là điều trị suốt đời,do đó khi huyết áp đã trở về gần bình thường cũng không nên ngưng thuốc hạ áp mà phải điều trị tiếp tục vì huyết áp gia tăng trở lại khi ngưng thuốc.Cần tham vấn thường xuyên bác sĩ của bạn khi huyết áp quá cao hoặc quá thấp trong quá trình điều trị.

Điều trị thuốc hạ áp có thể phối hợp các nhóm thuốc khác nhau để tăng hiệu quả và giảm tác dụng phụ (do sử dụng liều thấp).Cần lưu ý đến tác dụng phụ của thuốc khi điều trị đặc biệt là tụt huyết áp ở người già. Ơû người già, bác sĩ điều trị thường cho thuốc hạ áp với liều khởi đầu chỉ bằng nữa liều người trẻ vì người già dễ tụt huyết áp do thuốc hơn.

Ngoàøi việc điều trị huyết áp, cần lưu ý điều trị các yếu tố nguy cơ khác kèm theo như tiểu đường , tăng lipid máu...

Bạn sẽ được bác sĩ điều trị gì khi bạn bị cao huyết áp?

Thông thường khi đo trị số huyết áp của bạn cao >140/90nnHg với nhiều lần đo trong nhiều ngày bạn có thể được xem là cao huyết áp.Nếu huyết áp của bạn không cao lắm tức khoảng 140/90-150/95nnHg và tình trạng chung tốt và không mắc các bệnh làm xấu thêm tình trạng tim mạch.Bạn có thể không dùng thuốc mà cần phải điều chỉnh cách sống. Nếu huyết áp cao hơn hoặc không cải thiện thì có thể xem xét điều trị thuốc ngay sau khi cân nhắc cẩn thận.

Việc điều chỉnh các sống bao gồm:

Điều chỉnh chế độ ăn uống như giảm ăn mặn (<6g>

Tập thể dục đều đặn là cách thức giảm cân, hoạt động thể lực aerobic hàng ngày 30-45 phút hầu hết các ngày trong tuần.

Ngưng hút thuốc lá.

Đời sống tinh thần thoải mái nghỉ ngơi giải trí hợp lý

Điều trị thuốc hạ áp:

Bác sĩ của bạn sẽ điều trị bệnh cao huyết áp bằng thuốc cho bạn khi trị số huyết áp khá cao, huyết áp cao có ảnh hưởng tim,mắt ,thận , não.hay chưa cũng như kèm theo các bệnh liên quan khác (tiểu đường, tăng mỡ trong máu.)

Một số thuốc hạ áp thường dùng:

Nhóm thuốc lợi tiểu:

Furosemid(Lasix, Lasilix)

Hydrochlorothiazid(Hypothiazid)

Indapamid(Natrilix SR)

Nhóm thuốc ức chế can xi:

Nhóm Dihydropyridine : Nifedipine(Adalat,Procardia) chỉ nên sử dụng chế phẩm tác dụng kéo dài không nên sử dụng các chế phẩm tác dụng ngắn đặc biệt là dạng ngậm dưới lưởûi vì không an toàn (gia tăng cơn đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim và tử vong).

Felodipine(Plendil), Amlodipine(Amlor.Amdepin, Amlopress)

Nhóm Không Dihydropyridine :Tildiem(Tildiazem), Verapamil(Isoptin)

Nhóm thuốc ức chế men chuyển:

Captopril (Lopril), Enalapril (Renitec), Lisinopril (Zestril), Peridopril (Coversyl)

Nhóm thuốc ức chế bêta giao cảm:

Propranolol (Avlocardyl, Inderal), Atenolol (Tenormin), Metoprolol (Lopresor),Acebutolol (Sectral), Pindolol (Visken)

Việc lựa chọn thuốc hạ áp nào là phụ thuộc vào tình trạng huyết áp và tình trạng bệnh lý saün có( tuổi, bệnh tim, bệnh phổi,bệnh thận.).Ví dụ người có bệnh phổi như hen suyễn hoặc nhịp tim chậm(<60>

Theo dõi hiệu quả điều trị:

Các cách thức theo dõi điều trị:

Đo huyết áp tại phòng khám:

Đây là cách thức thường áp dụng cho bệnh nhân. Nhược điểm là trị số huyết áp tại phòng khám thường cao hơn trị số thực sự 20-30mmHg, dù kỷ thuật đo của bác sĩ là đúng. Hiện tượng này còn gọi là hiệu ứng áo choàng trắng.Sự gia tăng huyết áp này là do tâm lý bệnh nhân khi đến môi trường y tế.Điều này làm bác sĩ thay đổi thuốc hoăïc tăng liều sẽ gây bất lợi là tụt huyết áp do điều trị quá mức.

Đo huyết áp tại nhà: Thật là lý tưởng nếu bệnh nhân tự đo huyết áp ở nhà nhiều lần trong ngày để kết hợp với trị số đo tại phòng khám. Với các máy đo huyết áp điện tử hiện nay( đặc biệt những máy có kiểm định chất lượng tốt) sẽ hổ trợ lớn cho bác sĩ và bệnh nhân theo dõi điều trị.Một khó khăn thường gặp là làm sao để bệnh nhân đo tại nhà đúng kỷ thuật và không phải tất cả bệnh nhân đều có maý đo huyết áp tại nhà dù giá máy hiện nay tương đối chấp nhận.

Đo huyết áp với kỷ thuật theo dõi huyết áp liên tục 24 giờ (ABPM) trong điều kiện ngoại trú:

Ngoài ra, khi bạn không có máy đo huyết áp tại nhà, bác sĩ của bạn có thể đề nghị bạn mang 1 máy đo huyết áp theo dõi liên tục 24 giờ (ambulatory blood pressure monitoring-ABPM), là máy đo huyết áp trong điều kiện ngoại trú. Đây là loại máy hoàn toàn tự động, ban ngày máy có thể đo mỗi 15 phút 1 lần và ban đêm mỗi 30 phút -1 giờ 1 lần đo.Sau đó 24 giờ sẽ nạp vào máy vi tính và bác sĩ chuyên trách sẽ in ra cho bạn 1 bảng kết quả đo và biểu đồ huyết áp dao động trong ngày.Nhờ số lần đo >60 lần/ ngày mà bác sĩ của bạn sẽ biết được chính xác hơn huyết áp của bạn đã trở về gần bình thường chưa và biết được thời điểm nào huyết áp bạn lên cao hoặc có tụt huyết áp không để điều chỉnh thuốc hạ áp cho bạn.Chi phí cho một lần đo 24 giờ chừng 200.000 đồng là tương đối cao nhưng hiệu quả đánh giá tình trạng huyết áp trong khi điều trị là khá lớn và cho đến nay đây là biện pháp tốt nhất để đánh giá hiệu quả điều trị so với đo huyết áp tại phòng khám hoặc tự đo tại nhà.

Hình 2: Một người cao huyết áp đang mang máy theo dõi huyết áp 24 giờ (ABPM)

Điều trị cao huyết áp chỉ thật sự ích lợi khi trị số huyết áp được đưa về gần như bình thường.Với trị số này mới có thể ngăn ngừa biến chứng do cao huyết áp.Vấn đề quan trọng là việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân và sử dụng thuốc hợp lý của bác sĩ.Trong nhiều khảo sát gần đây cho thấy chỉ 40-50% bệnh nhân được điều trị cao huyết áp có trị số huyết áp trở về gần bình thường .Người cao huyết áp không tuân thủ đúng điều trị một phần do chưa hiểu hết tầm quan trọng của điều trị huyết áp, do công việc không tái khám và uống thuốc đúng giờ, chi phí thuốc và các xét nghiệm kèm theo trong mỗi lần khám khá đắt và tác dụng phụ của thuốc.

Việc theo dõi điều trị có hiệu quả hay không là vấn đề quan trọng.Có thể bạn tự đo huyết áp ở nhà trung bình > 3lần /ngày sau đó ghi vào sổ theo dõi huyết áp. Khi tái khám bạn nên đem theo để bác sĩ của bạn tham khảo kết hợp với trị số đo huyết áp tại phòng khám bệnh.

Mặc dù huyết áp bạn có thể đã ổn định trong giới hạn cho phép nhưng điều đó không có nghĩa là bạn tự ý ngưng thuốc. Bạn cần khám định kỳ tại bác sĩ chuyên khoa tim mạch mà bạn tin tưởng và tái khám ngay khi bạn thấy có thay đổi bất thường như choáng váng, khó thở...

Luôn luôn tìm nguyên nhân gây ra cao huyết áp:

Hầu hết các trường hợp cao huyết áp đều là không rõ nguyên nhân, do đó ngoài việc điều trị bằng thuốc hạ áp phải lưu ý đến điều trị các yếu tố nguy cơ như tiểu đường ,tăng lipid máu, giảm ăn mặn,chế độ ăn kiêng hợp lý, tập thể dục đều đặn.

Ở người trẻ hoặc người quá già có cao huyết áp cần lưu ý một số nguyên nhân mà việc điều trị can thiệp phẩu thuật có thể chửa trị khỏi hoàn toàn như hẹp eo động mạch chủ, hẹp động mạch thận,u tủy thượng thận.

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2009

Cao huyết áp (Tăng huyết áp)-High Blood Pressure

Cao huyết áp (Tăng huyết áp)-High Blood Pressure-tài liệu của FDA-Hoa Kỳ
http://www.fda.gov/downloads/ForConsumers/ByAudience/ForWomen/FreePublications/UCM135081.pdf

Cao huyết áp (còn được gọi là tăng huyết áp) là một bệnh nghiêm trọng ảnh hưởng đến gần 65 triệu người lớn ở Mỹ. Cao huyết áp thường được gọi là "sát thủ thầm lặng" vì nhiều người mắc chứng bệnh này nhưng lại không biết về nó. Theo thời gian, những người không được điều trị cao huyết áp có thể ốm nặng hoặc thậm chí là chết.

Cao huyết áp ảnh hưởng như thế nào đến cơ thể bạn?
Cao huyết áp có thể gây ra các bệnh đe dọa tính mạng như các vấn đề về thận, đột quỵ, suy tim, mù mắt và đau tim.
Ai dễ mắc bệnh?
Ai cũng có thể bị cao huyết áp. Một số người dễ bị cao huyết áp hơn những người khác, gồm có:

• Người Mỹ gốc Phi
• Người trên 55 tuổi
• Người có tiền sử gia đình bị cao huyết áp
Bạn dễ bị cao huyết áp hơn nếu:
• Bị béo phì
• Ăn các thức ăn chứa nhiều muối
• Không thường xuyên tập thể dục
• Hút thuốc
• Uống quá nhiều rượu

Các dấu hiệu của bệnh cao huyết áp?
Nhiều người mắc bệnh cao huyết áp thoạt tiên không cảm thấy bị bệnh. Cách duy nhất để biết chắc chắn là kiểm tra huyết áp với bác sĩ hoặc một chuyên gia y tế khác.
Tìm hiểu về huyết áp của bạn: Ý nghĩa của các con số?
• Khi được bác sĩ đo huyết áp, bạn sẽ được cho biết hai con số, chẳng hạn 120/80. Cả hai con số đều quan trọng.
• Con số đầu tiên là áp suất của bạn khi tim đập (áp suất tâm thu). Con số thứ hai là áp suất của bạn khi tim nghỉ (áp suất tâm trương).
• Huyết áp của bạn thay đổi trong ngày tùy thuộc vào các hoạt động của bạn. Huyết áp tăng nhẹ là bình thường nhưng huyết áp của bạn càng ở mức cao, bạn càng dễ bị cao huyết áp.
• Nếu huyết áp của bạn thường cao hơn 140/90, bạn có thể cần điều trị.
• Nếu huyết áp của bạn cao hơn 120/80 và bạn còn có thêm các yếu tố nguy cơ khác, chẳng hạn bệnh đái đường, bạn có thể cần điều trị.

Cách điều trị cao huyết áp?
Có một số loại thuốc mà người bệnh có thể dùng hàng ngày để kiểm soát tình trạng cao huyết áp. Chỉ bác sĩ mới có thể cho biết liệu bạn có cần dùng thuốc hay không.
Cao huyết áp ảnh hưởng như thế nào đến thai phụ?
Một vài phụ nữ sẽ bị cao huyết áp khi mang thai. Khi thai phụ bị cao huyết áp, tình trạng này được gọi là tiền sản giật hoặc nhiễm độc huyết.

Làm thế nào để kiểm soát bệnh cao huyết áp?
• Kiểm tra huyết áp của bạn.
• Dùng thuốc cao huyết áp mỗi ngày nếu cần thiết.
• Thường xuyên tập thể dục.
• Ăn các thức ăn chứa ít muối.
• Giảm cân hoặc giữ cân nặng ở mức khỏe mạnh.
• Không hút thuốc.
• Hạn chế uống rượu.
• Thường xuyên thông báo cho bác sĩ về huyết áp của bạn.

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2009

TĂNG HUYẾT ÁP, CHẾ ĐỘ ĂN VÀ CÂN NẶNG

TĂNG HUYẾT ÁP, CHẾ ĐỘ ĂN VÀ CÂN NẶNG
TS. Tạ Mạnh Cường - Viện Tim Mạch Việt Nam

TĂNG HUYẾT ÁP – Tăng huyết áp (cao huyết áp) là bệnh thường gặp. Tăng huyết áp nếu không được điều trị đúng sẽ gây ra nhiều hậu quả nặng nề. Các nghiên cứu khoa học chứng minh rằng chế độ ăn và cân nặng đóng vai trò quan trọng trong tiến triển của bệnh tăng huyết áp. Thực hiện chế độ ăn và giảm cân nặng là những biện pháp điều trị không thể thiều đối với bệnh nhân tăng huyết áp.

Điều chỉnh chế độ ăn và giảm cân nặng được gọi là các biện pháp điều trị không dùng thuốc. Một số biện pháp điều trị không dùng thuốc khác là bỏ thuốc lá, giảm sang chấn tinh thần, bỏ rượu và tập thể dục đều đặn. Các biện pháp điều trị không dùng thuốc khi thực hiện riêng rẽ đều có hiệu quả hạ áp nhưng tác dụng của chúng cao hơn nếu thực hiện một cách đồng thời. Bên cạnh đó, những biện pháp này còn giúp cho người bệnh có thể không cần phải dùng nhiều thuốc hạ áp hoặc không phải dùng thuốc hạ áp với liều cao vì các biện pháp không dùng thuốc có thể làm tăng cường tác dụng của các thuốc chống tăng huyết áp. Các biện pháp điều trị không dùng thuốc hầu như không có tác dụng phụ hoặc nếu có cũng chỉ là rất ít. Ngoài ra nó còn giúp giảm nguy cơ tim mạch toàn bộ cho bệnh nhân và nếu áp dụng sớm, chúng có thể giúp chúng ta có thể phòng ngừa được bệnh tăng huyết áp ở những người có nhiều nguy cơ.

THAY ĐổI CHẾ ĐỘ ĂN VÀ HUYẾT ÁP - Các nghiên cứu cho thấy chế độ ăn có thể ảnh hưởng đến huyết áp và chế độ ăn đó thay đổi có thể giúp kiểm soát, thậm chí có thể phòng tăng huyết áp. Những thay đổi về chế độ ăn nên được lưu tâm và đi vào từng khâu trong tiết chế và thói quen ăn hàng ngày.

Giảm lượng muối Natri - Ăn giảm muối giúp hạ huyết áp ở những người huyết áp cao hoặc ở giới hạn bình thường cao. Ăn giảm muối cũng làm giảm tỷ lệ bệnh nhân phải tái nâng liều thuốc hạ áp sau khi đã được phép giảm liều.

Chuyển từ thói quen ăn mặn sang chế độ ăn giảm muối giúp giảm nhẹ huyết áp ở những người huyết áp bình thường. Khi lượng Natri đưa vào cơ thể giảm từ 4000 mg xuống còn 2000 mg mỗi ngày thì huyết áp có thể giảm từ 2 – 3 mmHg. Trong 7 năm ăn giảm muối, huyết áp có thể giảm đi 10 mmHg. Như vậy, ăn giảm muối có thể giúp làm giảm nguy cơ tim mạch.

Ăn nhiều rau quả - Ăn nhiều rau quả hàng ngày có thể làm giảm huyết áp và phòng chống tăng huyết áp. Một nghiên cứu cho thấy bệnh nhân tăng huyết áp mức độ vừa ăn nhiều rau làm giảm được huyết áp tâm thu nhiều hơn so với khi ăn theo tiết chế bình thường.

Một trong những thành phần của rau quả có thể gây tác động đến huyết áp đó là chất xơ. Tăng chất xơ trong khẩu phần ăn có thể làm giảm huyết áp. Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy nếu ăn trung bình hàng ngày 11,5 gam chất xơ sẽ làm huyết áp giảm được 1,2 – 1,3 mmHg. Mặt khác, ăn nhiều chất xơ sẽ có nhiều lợi ích khác đối với sức khỏe, ví dụ như giảm được lượng cholesterol toàn phần và nồng độ Insulin. Nên ăn từ 20 – 35 gam chất xơ mỗi ngày. Ngũ cốc là nguồn cung cấp chất xơ rất quan trọng trong khẩu phần ăn hàng ngày.

Cá nước ngọt - Tăng lượng cá nước ngọt trong khẩu phần ăn hàng ngày có thể giúp hạ huyết áp. Phối hợp với biện pháp giảm cân nặng làm hạ huyết áp được nhiều hơn. Trong một nghiên cứu khoa học cho thấy ăn nhiều cá và giảm cân nặng làm huyết áp 133/77 mmHg giảm xuống 119/68 mmHg.

Cà phê - Cà phê có thể làm tăng nhẹ huyết áp cho dù tác dụng này chỉ là tạm thời. Dùng cà phê vừa phải không gây nguy cơ tăng huyết áp trong phần lớn các trường hợp.

Nghiện cà phê có thể làm tăng huyết áp vừa phải ở một số bệnh nhân. Phân tích tổng hợp 18 nghiên cứu khoa học cho thấy uống cà phê làm huyết áp tâm thu tăng 1,2 mmHg và huyết áp tâm trương tăng 0,49 mmHg. Huyết áp giảm xuống sau khi bỏ thói quen uống cà phê hàng ngày.

Tập thể dục - Tập thể dục có thể làm giảm huyết áp từ 5 – 15 mmHg. Để có được hiệu quả này cần phải tập thường xuyên và kéo dài. Ngừng tập luyện có thể làm cho huyết áp tăng trở lại. Cần lưu ý rằng bên cạnh tập thể dục thường xuyên, các động tác đi lại, vươn thở sâu… có thể giúp tiêu hao 100 – 800 calo mỗi ngày.

GIẢM CÂN NẶNG VÀ HUYẾT ÁP - Thừa cân gây nguy cơ tăng huyết áp và các bệnh tim mạch khác phối hợp với tăng huyết áp. Cùng với tuổi, tăng cân dần dần trong cuộc sống dường như góp phần làm tăng huyết áp ở những người có tuổi.

Giảm cân là kết quả đạt được của nhiều biện pháp không dùng thuốc phối hợp, ví dụ giảm ca lo trong khẩu phần ăn, tăng cường luyện tập thể dục, hạn chế bia rượu…

Hiệu quả của giảm cân nặng đối với huyết áp - Thừa cân làm tăng huyết áp và làm cho huyết áp khó kiểm soát huyết áp ở những bệnh nhân tăng huyết áp. Ngược lại, giảm đi 1 kg cân nặng giúp huyết áp giảm 1 mmHg.

Những lợi ích khác của giảm cân - Thêm vào tác dụng hạ áp, giảm cân còn mang lại một số lợi ích khác như giảm cholesterol máu, giảm phì đại tim, giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Duy trì cân nặng ở mức độ hợp lý - Giảm cân có thể khó đạt được và khi đạt được cũng khó duy trì nên việc duy trì cân nặng ở mức độ hợp lý đòi hỏi phải áp dụng nhiều biện pháp phối hợp như tiết chế hàng ngày, không nên sử dụng thức ăn quá béo hoặc nhiều đồ uống có ga, luyện tập thể dục và kiểm tra cân nặng thường xuyên. Nếu có điều kiện, nên đến tư vấn bác sĩ về dinh dưỡng, tim mạch hoặc nội tiết để sức khỏe của chúng ta được chăm sóc tốt hơn.

BỆNH CAO ÁP HUYẾT

BỆNH CAO ÁP HUYẾT

(Hypertension)

BS. Nguyễn Văn Đức


Nước Mỹ nay 281 triệu người, trong đó, hơn 60 triệu người mang bệnh cao áp huyết (bạn tính, chưa đến 5 người, đã có 1 người cao áp huyết).

Bệnh cao áp huyết nguy hiểm, đưa đến những biến chứng như tai biến mạch máu não (stroke), chết cơ tim cấp tính (heart attack), suy tim, suy thận. Cao áp huyết còn rút ngắn tuổi thọ. Khổ cái, trong đa số các trường hợp, cao áp huyết không gây triệu chứng. Nhiều vị không biết mình mang bệnh, tình cờ đi thăm bác sĩ vì một lý do gì khác, được bác sĩ cho biết có cao áp huyết. Cho nên, cao áp huyết nổi danh là một “căn bệnh thầm lặng”.

Cao áp huyết là gì? Con tim bơm máu đi nuôi các cơ quan của cơ thể qua những hệ thống mạch máu gọi là động mạch. Ví như một máy bơm nước đẩy nước qua các ống dẫn. Khi máu được tim bơm đẩy, và chảy trong lòng các mạch máu, sức ép của máu vào thành mạch máu sẽ tạo một áp suất (pressure) gọi là áp huyết (blood pressure). Áp huyết thay đổi tùy lúc, và tùy các hoạt động của cơ thể. Áp huyết xuống thấp hơn lúc ta ngủ, nghỉ và lên cao hơn khi tinh thần ta kích động, buồn bực hoặc trong lúc ta tập thể dục, chơi thể thao.

Áp huyết được diễn tả bằng 2 số, thí dụ: 140/90. Số trên (140) được gọi là áp suất systolic (áp suất tâm thu): sức ép của máu vào lòng động mạch mỗi khi tim co bóp để bơm máu ra khỏi tim. Số dưới (90) được gọi áp suất diastolic (áp suất tâm trương): áp suất trong lòng động mạch khi con tim dãn ra giữa hai nhịp co bóp. Số trên tượng trưng áp suất cực đại (maximum) trong lòng động mạch, và số dưới tượng trưng áp suất cực tiểu (minimum) trong lòng động mạch. Bình thường, áp suất systolic dưới 140 và áp suất diastolic dưới 90, khoảng 120/80. Áp huyết từ 140/90 trở lên được xem là cao (đo ít nhất 2 lần, vào 2 dịp khác nhau). Tất nhiên, áp huyết càng cao càng nguy hiểm, dễ đưa đến các biến chứng tai biến mạch máu não, chết cơ tim cấp tính, suy tim hay suy thận.

Nguyên nhân

Đến 90% các trường hợp cao áp huyết, nguyên nhân của bệnh chưa được biết rõ, hoặc nói cách khác, với trình độ y khoa hiện tại, người ta chưa tìm ra được nguyên nhân. Một số nhỏ các trường hợp cao áp huyết gây do uống rượu nhiều quá, do bệnh của tuyến nội tiết, bệnh thận...

Có một số yếu tố ảnh hưởng, khiến người nọ có thể dễ mang bệnh cao áp huyết hơn người kia:

- Yếu tố gia đình: cao áp huyết có tính di truyền. Có cha mẹ, anh em ruột cao áp huyết, đi khám bác sĩ, bạn nhớ cho bác sĩ biết điều này bạn nhé.

- Đàn ông: đàn ông dễ cao áp huyết hơn phụ nữ. Tuy vậy, phụ nữ, sau khi mãn kinh, cũng dễ cao áp huyết hơn lúc còn kinh.

- Tuổi tác: cao áp huyết dễ xảy ra sau tuổi 35.

- Giòng giống: người da đen hay cao áp huyết hơn người da trắng, và bệnh cao áp huyết ở người da đen cũng nặng hơn. (Người viết chưa thấy có nhiều tài liệu viết về tỉ lệ cao áp huyết của người da vàng chúng ta, so với các sắc dân khác).

- Béo mập: khi sức nặng của ta trên sức nặng lý tưởng so với chiều cao và vóc người 30% trở lên.

- Bệnh tiểu đường: tiểu đường và cao áp huyết như đôi bạn thân, hay đi đôi với nhau, lại cùng nhau phá hoại tim và thận mạnh hơn.

- Rượu: các khảo cứu cho thấy rượu uống nhiều và thường xuyên có thể đưa đến cao áp huyết, đồng thời cũng làm tăng tỉ lệ bị tai biến mạch máu não và bệnh thận.

- Đời sống thiếu vận động: đời sống thiếu vận động dễ gây béo mập, và béo mập, như đã biết, có thể đưa đến cao áp huyết.

Biến chứng của cao áp huyết

Bệnh cao áp huyết, không chữa trị, làm hại cơ thể ta nhiều cách. Áp huyết cao hơn bình thường khiến tim và các mạch máu phải làm việc nhiều hơn. Con tim lúc nào cũng gắng sức, sau trở thành mệt mỏi, và yếu dần. Cho đến một lúc, con tim suy yếu sẽ không còn bơm đủ máu, không đáp ứng được nhu cầu của các cơ quan trong cơ thể, nhất là khi người bệnh vận động, gây các triệu chứng mau mệt, choáng váng, khó thở..., nhất là khi vận động. Áp suất cao trong các mạch máu có thể làm tổn thương thành của các mạch máu. Những chỗ tổn thương trong lòng các mạch máu dễ bị chất mỡ cholesterol và các tế bào tiểu cầu (platelet) luôn luôn có sẵn trong máu bám vào. Cơ chế dây chuyền này lại càng làm lòng các mạch máu tổn thương thêm nữa và dần dần nhỏ hẹp lại. Bạn tưởng tượng, nếu các mạch máu dẫn máu đến nuôi tim càng lúc càng tổn thương và nhỏ hẹp lại, dĩ nhiên đến một ngày nào đó, sẽ không còn mang đủ máu đến để nuôi tim. Nếu một phần tim thiếu máu nuôi trầm trọng, phần tim đó có thể chết và gây ra hiện tượng chết cơ tim cấp tính (heart attack).

Tương tự, cao áp huyết làm tổn thương các mạch máu nuôi óc, nuôi thận, nuôi mắt... gây các biến chứng tai biến mạch máu não, suy thận, giảm thị giác... So với người thường, người cao áp huyết, nếu không chữa, dễ bị bệnh hẹp hay tắc các động mạch tim khiến tim đâm thiếu máu nuôi (ischemic heart disease) gấp 3 lần, dễ suy tim gấp 6 lần, và dễ bị tai biến mạch máu não gấp 7 lần.

Định bệnh

Đa số người cao áp huyết không có triệu chứng. Một số vị có những triệu chứng mơ hồ như hồi hộp (cảm thấy tim đập mạnh), nhức đầu, chóng mặt... Cách tốt nhất, cứ 1-2 năm, dù chẳng cảm thấy mình có bệnh gì, bạn cũng nên đi khám bác sĩ và nhờ đo áp huyết, nhất là nếu bạn lại có những yếu tố không tốt như đã kể trên.

Với bác sĩ, định bệnh cao áp huyết thường chẳng khó gì. Một người xem là có cao áp huyết, nếu áp huyết cao từ 140/90 trở lên, đo 2 lần vào 2 dịp thăm khám khác nhau (người bệnh không nên dùng cà-phê, hút thuốc lá trước đó, nên ngồi nghỉ một lát, rồi áp huyết được đo ở tư thế ngồi hay nằm). Sau khi xác định một người có cao áp huyết, để tìm xem các cơ quan bên trong cơ thể đã tổn thương do cao áp huyết hay chưa, để từ đó, sẽ hoạch định đường hướng trị liệu, bác sĩ sẽ khám kỹ mắt, tim, các mạch máu. Đồng thời, bác sĩ cho thử máu, thử nước tiểu, làm tâm điện đồ, và chụp phim ngực (chest X-ray: chúng ta hay quen miệng gọi phim phổi). Những thử nghiệm và phim ngực này giúp bác sĩ tìm hiểu thêm được người bệnh có cao cholesterol trong máu hay không, tim, thận đã tổn thương vì cao áp huyết hay chưa. Đây là những yếu tố quan trọng cần nắm vững trước khi bác sĩ quyết định trị liệu bằng phương cách nào.

A, nhưng nếu bạn mang bệnh cao áp huyết, khi đi khám bệnh, bạn nên kể bệnh như thế nào nhỉ. Hay ta thử nghe một vị biết cách kể bệnh, trình bày cho bác sĩ nghe vấn đề cao áp huyết của mình:

“Tôi đến đây hôm nay nhờ bác sĩ xem hộ tôi bệnh cao áp huyết. Tôi năm nay 45 tuổi, sang Mỹ mới 1 tháng. 2 năm trước, một hôm đau bụng, tôi đi khám bác sĩ, được bác sĩ cho biết áp huyết tôi hôm đó 142 trên 90. Áp huyết đo lại 2 tuần sau đó cũng vẫn cao, 150 trên 92. Bác sĩ kết luận là tôi có cao áp huyết nhẹ. Bác sĩ cho thử máu, thử nước tiểu, làm tâm điện đồ, chụp phim phổi (tôi nghe nói, ở bên này, người Mỹ gọi là “chest X-ray”, dịch là phim ngực), và cho biết tôi không bị tiểu đường, cao cholesterol hay bị bệnh gì khác. Sau 3 tháng theo dõi và khuyên tôi bỏ thuốc lá, ăn lạt, thường xuyên vận động không có kết quả, bác sĩ cho tôi uống Aldomet 250 mg, ngày 3 lần. Áp huyết tôi xuống còn 120/80, bác sĩ bảo là bình thường. Có điều Aldomet hay làm tôi mệt mỏi và buồn ngủ. Giữa tôi với bác sĩ, tôi cũng xin nói thực, nó cũng làm vấn đề chồng vợ của tôi bị suy giảm. Tôi ngưng Aldomet từ ngày qua Mỹ 1 tháng trước, và từ đó đến nay, không dùng thuốc gì cả. Tôi hoàn toàn không có triệu chứng gì bất thường. Tôi bỏ hẳn thuốc lá 2 năm trước, khi được biết bị cao áp huyết, theo lời khuyên của bác sĩ. Tôi không uống rượu thường xuyên, chỉ thỉnh thoảng cuối tuần làm vài lon bia với bạn bè cho vui”.

Bạn cũng nhớ cho bác sĩ biết bạn có hút thuốc lá, có uống rượu, hoặc đang dùng bất cứ thuốc nào không, kể cả những thuốc mua bên ngoài không cần toa bác sĩ, vì nhiều thuốc, như thuốc ngừa thai, thuốc chữa sổ mũi, nghẹt mũi (Actifed, Dimetapp, Sudafed...) có thể làm áp huyết tăng cao.

Chữa trị

Cao áp huyết cần được chữa trị cẩn thận, để giảm thiểu những biến chứng, giúp ta sống lâu hơn và vui hơn. Sự chữa trị tùy vào mức độ của căn bệnh, và cũng tùy vào nhiều yếu tố khác.

Cao áp huyết có 3 mức độ: cao nhẹ (mild: khi áp suất tâm trương, nôm na là số dưới, cao từ 90 đến 104), cao vừa (moderate: khi số dưới từ 105 đến 119), và cao nặng (severe: số dưới từ 120 trở lên). Loại cao vừa và cao nặng chắc chắn phải dùng đến thuốc rồi. Loại cao nhẹ, tùy trường hợp, sẽ cần chữa trị sớm bằng thuốc hay không. Thí dụ, người bị cao áp huyết là đàn ông, lại hút thuốc, có thêm tiểu đường, hoặc cao chất cholesterol trong máu, dù chỉ bị cao áp huyết nhẹ, cũng cần được chữa sớm bằng thuốc. Ngược lại, một phụ nữ cao áp huyết nhẹ, và không có các bệnh khác đi kèm, có thể thử các phương pháp chữa trị chưa cần dùng thuốc trước trong vòng 3 đến 6 tháng. Sau thời gian 3 đến 6 tháng, áp huyết vẫn chưa xuống trở lại bình thường, bác sĩ có thể sẽ nghĩ đến việc phải dùng thuốc chữa cho người bệnh.

Các phương pháp chữa trị lúc chưa cần dùng thuốc: xuống cân nếu béo mập, ăn một thực phẩm ít mặn và ít chất béo, bỏ thuốc lá, bớt uống rượu, thường xuyên vận động. Mỗi người có một sức nặng lý tưởng so với chiều cao và vóc người. Nếu người cao áp huyết có sức nặng trên sức nặng lý tưởng, bác sĩ thường khuyên người bệnh tìm cách xuống ký bằng ăn kiêng (diet) và vận động (exercise).

Về mặt chữa bằng thuốc, có rất nhiều điều bác sĩ cần suy tính trước khi đặt bút biên toa. Lý tưởng, ta đưa được áp huyết xuống 130/80, dưới hơn vậy càng tốt, với một thuốc rẻ, không gây phản ứng phụ (side effects), ngày dùng chỉ một lần cho tiện. Đây là đích nhắm ta cố đạt tới, song không phải trường hợp nào cũng thực hiện được.

Thuốc chữa cao áp huyết nhiều loại, ra đời ngày càng lắm, giá cả rất khác biệt. Thuốc nào cũng có mặt lợi và mặt hại, cùng những tác dụng phụ của nó. Nếu có thể, ta bao giờ cũng nên thử những thuốc rẻ tiền trước, không được mới dùng đến thuốc đắt tiền hơn. Song nhiều thuốc đắt, bảo hiểm không cho, mua bằng tiền mặt khó mua được dài lâu. Rồi có khi người bệnh dùng thuốc đang tốt, hợp, nhưng vì đổi bảo hiểm, bảo hiểm mới không cho thuốc như bảo hiểm cũ, lại đổi thuốc, đi lại từ đầu. Ôi, nhức đầu. Chữa cao áp huyết thực không dễ.

Nhiều thuốc cao áp huyết có tác dụng chữa được cả bệnh khác, chẳng hạn các thuốc propanolol, timolol ngừa được các cơn nhức đầu một bên migraine; hai thuốc Hytrin, Cardura làm giảm các triệu chứng của bệnh to nhiếp hộ tuyến. Khéo dùng thuốc, ta có thể một ná bắn hai chim, dùng một thuốc chữa cả hai bệnh.

Bạn nên uống thuốc đều, không nên ngưng thuốc khi thấy áp huyết đã xuống lại bình thường, và nhớ trở lại tái khám đúng hẹn với bác sĩ. Cao áp huyết là bệnh kinh niên, suốt đời ta cần chữa kỹ.

Sự chữa trị nào trong y khoa cũng là dò dẫm, bạn nên để bác sĩ có dịp thi thố tài năng vài lần. Dùng một thuốc cao áp huyết không hợp, gây cho bạn phản ứng khó chịu, bạn nên trở lại cho bác sĩ biết, nhờ bác sĩ điều chỉnh sự chữa trị, có khi đổi một thuốc khác xem sao. Bạn chớ vội nghe rỉ tai: “Thuốc tây “nóng” lắm, chả nên dùng” (như thế thì... tội cho thuốc tây lắm lắm, một thuốc làm bạn khó chịu, hàng trăm thuốc khác hàm oan). Rồi mất tiền vào những chữa trị chẳng có sách vở nào nói đến, cho đến một sáng đẹp trời, bạn mở mắt thức dậy, thấy một bên người liệt vì tai biến mạch máu não. Muộn mất rồi.

Cao áp huyết, “căn bệnh thầm lặng”, lặng lẽ làm tổn thương các cơ quan của cơ thể và rút ngắn tuổi thọ. Khám phá anh chàng thầm lặng này, đặt anh ta vào vòng kiểm soát, ta cứu vãn được nhiều việc.

BÍ QUYẾT GIỮ MỨC HUYẾT ÁP

BÍ QUYẾT GIỮ MỨC HUYẾT ÁP

BS. THU HƯƠNG

Thói quen ăn uống là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới huyết áp, đặc biệt là người tăng huyết áp do di truyền thì chế độ ăn uống càng có ảnh hưởng lớn. Dưới đây là những điều quan trọng liên quan tới thói quen ăn uống, cũng như các vấn đề then chốt phải tuân theo để giữ gìn sức khỏe lâu dài.

*Chế độ ăn uống

Tăng huyết áp không phải là bệnh mà là một hội chứng do nhiều nguyên nhân gây ra, đặc biệt còn có thể đơn thuần do ăn uống ở một số người quá thừa protein, ăn quá nhiều mỡ động vật, ăn uống các chất quá dư thừa, cơ thể ít vận động, người béo phệ. Nói chung người bị tăng huyết áp cần phải tìm và chữa nguyên nhân là chính, nhưng việc ăn uống kiêng khem cũng là điều quan trọng, một số điều cần chú ý:

Đối với chất đạm (protein): Cần hạn chế không ăn nhiều, có thể ăn 0,5-1g/kg trọng lượng cơ thể người bình thường (50kg), tương đương nửa lạng thịt trong ngày để duy trì tình trạng sức khỏe bình thường.

Nên chọn loại thịt trắng (gà, vịt...) tốt hơn là các loại thịt đỏ (trâu, bò...). Không nên ăn các loại thịt tẩm ướp nhiều gia vị như lạp xường, xúc xích, dăm bông... Hạn chế ăn thịt gia súc, gia cầm non, phủ tạng động vật như gan, óc, bầu dục... vì có nhiều nucleoprotein, khi tiêu hóa sinh ra các chất purin, acid uric có hại cho gan, thận, tim, mạch.

Có thể ăn đậu đỗ để bổ sung nguồn protein thực vật cho cơ thể.

Đối với chất béo (lipid): Không nên ăn quá 30g lipid/ngày, trong đó nên ăn dầu thực vật. Những thức ăn giàu chất béo thường có nhiều cholesterol, (mỡ động vật, phủ tạng động vật...), không nên ăn, nhất là những người tăng huyết áp xơ vữa động mạch.

Đối với chất đường (glucid): Nếu ăn nhiều dễ gây béo phì, không tốt cho người tăng huyết áp, vì vậy cần giảm bớt.

Ngoài ra người bị tăng huyết áp không nên dùng các chất kích thích như rượu, cà phê, nước trà đặc, thuốc lá...

Rất tốt nếu ăn nhiều rau xanh: Rau xanh tươi chứa nhiều vitamin, ăn nhiều có lợi cho cơ thể vì nó ổn định huyết áp. Rau xanh chứa nhiều kali, có tác dụng thải loại natri ra ngoài. Vì vậy ăn nhiều rau xanh có tác dụng phòng tăng huyết áp. Rau xanh và các loại hoa quả chứa nhiều chất xơ có tác dụng thúc đẩy quá trình bài tiết ra ngoài nhanh hơn, rất tốt cho cả người huyết áp cao và huyết áp thấp, sẽ phòng ngừa được chứng bí đại tiện mà người tăng huyết áp hay mắc.

Vận động vừa sức: Sáng dậy vận động có 3 cái lợi lớn là có thể phòng bệnh béo phì, rèn luyện cơ thể làm tinh thần thoải mái, và loại trừ các áp lực. Thời gian vận động tốt nhất là 30 phút bằng cách tập thể dục, đi bộ, đi xe đạp, nhảy dây... Người tăng huyết áp trước khi vận động mạnh cần kiểm tra tim thật cẩn thận, lựa chọn cách vận động thích hợp để tránh xảy ra sự việc.

*Duy trì không khí gia đình vui vẻ

Cả nhà đoàn tụ là "liều thuốc ổn định huyết áp": nhịp sống hiện đại luôn căng thẳng bận rộn và nhiều áp lực, đó là một trong những nguyên nhân gây tăng huyết áp, nhưng muốn thay đổi những áp lực đó không phải dễ, chỉ có gia đình mới có thể làm giảm và loại trừ những áp lực đó. Rất nhiều trường hợp người bệnh uống thuốc theo đơn bác sĩ mà vẫn không khỏi, nhưng bệnh lại thuyên giảm do có cuộc sống gia đình hòa hợp. Để luôn giữ cho huyết áp ở mức bình thường cần phải có môi trường gia đình vui vẻ, hòa hợp, ấm áp. Nếu vợ chồng hay cãi cọ nhau hoặc giữa cha con, mẹ con có rạn nứt thì nhất định sẽ làm huyết áp tăng lên.

*Không được sống buông thả

Không có gì hại hơn là chơi bời thâu đêm, nhảy nhót, đánh bạc... khiến người mệt mỏi, tinh thần luôn căng thẳng, trạng thái đó luôn thúc đẩy trở thành tăng huyết áp, làm cho tim phải chịu gánh nặng hơn.

Cuộc sống tình dục của người tăng huyết áp không được quá độ vì hoạt động tình dục tốn rất nhiều sức lực dễ gây hậu quả xấu, nên "sinh hoạt" khi trong người thư thái thoải mái, có nhiều thời gian nghỉ ngơi.

*Luôn cảnh giác, tránh lo lắng

Độ tuổi thanh thiếu niên: Ngay từ nhỏ rèn cho trẻ thói quen ăn uống, không cho trẻ ăn quá mặn và quá thừa dinh dưỡng, vì đó là nguyên nhân gây béo phì và xơ cứng động mạch.

Ở độ tuổi 20-30: Thời kỳ này cần tạo thói quen ăn uống hợp lý, sao cho không bị béo phì. Đây là thời kỳ đẹp nhất của đời người, rất dễ vì mục đích phấn đấu vươn lên mà không quan tâm đến sức khỏe, chủ quan cho là mình có thể lực dồi dào, quá coi trọng công việc và vui chơi làm huyết áp tăng lên, kết quả là rất dễ mắc bệnh tăng huyết áp.

Ở trên 40 tuổi: Ở độ tuổi này càng cần chú ý tới việc điều tiết ăn uống, vì lúc này lượng vận động giảm nhiều, nếu ăn nhiều sẽ bị phát phì. Đây cũng là thời kỳ huyết áp dễ thay đổi nhất nên hết sức lưu ý kiểm tra thường xuyên. Thời kỳ đầu bị tăng huyết áp dễ dẫn tới đau đầu, đau bả vai, huyết áp cũng lên xuống thất thường. Người trong độ tuổi 40-50 bị xuất huyết não cũng không hiếm, cho nên càng phải chú ý không làm việc quá sức, không vận động quá nhiều làm người mệt nhoài, mọi hoạt động phải hài hòa đúng mực.

Ở độ tuổi trên 50: Định kỳ đo huyết áp là cần thiết dù là người bình thường hay người bị tăng huyết áp đều phải biết tình trạng huyết áp của mình để phòng ngừa và chữa trị cho hiệu quả.

Ở độ tuổi trên 60: Cần chú ý tới chất và lượng bữa ăn, không ăn nhiều, ăn quá no. Người cao tuổi vị giác cũng không nhạy cảm nên thường thấy thức ăn nhạt nhẽo, thích ăn thêm nhiều gia vị, như vậy lượng muối ăn cũng nhiều lên gây ảnh hưởng xấu tới cơ thể, vì vậy người già cần chú ý không ăn nhiều muối, đường./.

Thuốc chữa tăng huyết áp và hiện tượng yếu sinh lý

Thuốc chữa tăng huyết áp và hiện tượng yếu sinh lý
Trong vài trường hợp, một số thuốc tăng huyết áp có thể ảnh hưởng xấu đến chức năng tính dục. Dưới đây là danh sách các loại thuốc có khả năng gây ra tác dụng phụ này mà người sử dụng nên lưu ý.
- Reserpin, kể cả cao ba gạc: Thuốc này tuy rẻ tiền và hiệu quả nhưng có thể gây giảm dương. Các thuốc Dopegyt và Catapressan cũng có thể ảnh hưởng đến chức năng tính dục nhưng ở mức độ ít hơn.
- Các thuốc chẹn beta giao cảm như Propranolol, Alvocardyl, Inderal, Pindolol (Visken): Đây là những thuốc chẹn beta không chọn lọc, chẹn cả thụ thể beta 1 và beta 2, hiện ít được dùng để chữa bệnh tăng huyết áp.
Cần lưu ý là những thuốc chẹn beta có chọn lọc (tức chỉ chẹn beta 1 thì không ảnh hưởng gì đến chức năng tình dục cả. Đó là các thuốc Atenolol (Tenormin), Metoprolol (Betaloc), Bisoprolol (Concor).
- Các thuốc chẹn alpha giao cảm như Phentolamin (Regitine), Prazosin (Minipress), Terazosin: Những thuốc này rất ít được dùng để chữa cao huyết áp, chủ yếu dùng trong điều trị phì đại tuyến tiền liệt.
- Các thuốc lợi tiểu kháng Aldosterol như Aldactone, Verospirone: Ảnh hưởng xấu đến sinh lý nên cũng ít khi được các bác sĩ kê đơn chữa tăng huyết áp.
Các thuốc lợi tiểu khác như Hypothiazid hoặc Lasix rất ít khi ảnh hưởng đến tình dục.
Những thuốc chữa cao huyết áp không ảnh hưởng đến sinh lý:
- Các thuốc chẹn thụ thể AT2 như Irbesartan (Aprovel), Losartan (Cozaar).
- Các thuốc ức chế enzym chuyển như Enalapril (Renitec, Ednyt), Captopril (Capoten), Lisinopril (Zestril).
- Các thuốc chặn kênh canxi như Amlodipine (Amlor), Nifedipin chậm (Adalat chậm), Diltiazem (Tildiem).
- Các thuốc chẹn beta có chọn lọc như đã nói ở trên.
Ba nhóm thuốc này tuy hơi đắt nhưng hiệu quả tốt và ít phản ứng bất lợi, đặc biệt là không gây giảm dương.
Nếu cảm giác yếu sinh lý xuất hiện sau khi dùng thuốc chữa tăng huyết áp dài ngày, bạn nên đến khám bác sĩ để tìm nguyên nhân, không nên tự động dùng thuốc.
GS Vũ Đình Hải, SK&ĐS