Thứ Tư, 15 tháng 7, 2009
BỆNH CAO ÁP HUYẾT
BỆNH CAO ÁP HUYẾT
(Hypertension)
BS. Nguyễn Văn Đức
Nước Mỹ nay 281 triệu người, trong đó, hơn 60 triệu người mang bệnh cao áp huyết (bạn tính, chưa đến 5 người, đã có 1 người cao áp huyết).
Bệnh cao áp huyết nguy hiểm, đưa đến những biến chứng như tai biến mạch máu não (stroke), chết cơ tim cấp tính (heart attack), suy tim, suy thận. Cao áp huyết còn rút ngắn tuổi thọ. Khổ cái, trong đa số các trường hợp, cao áp huyết không gây triệu chứng. Nhiều vị không biết mình mang bệnh, tình cờ đi thăm bác sĩ vì một lý do gì khác, được bác sĩ cho biết có cao áp huyết. Cho nên, cao áp huyết nổi danh là một “căn bệnh thầm lặng”.
Cao áp huyết là gì? Con tim bơm máu đi nuôi các cơ quan của cơ thể qua những hệ thống mạch máu gọi là động mạch. Ví như một máy bơm nước đẩy nước qua các ống dẫn. Khi máu được tim bơm đẩy, và chảy trong lòng các mạch máu, sức ép của máu vào thành mạch máu sẽ tạo một áp suất (pressure) gọi là áp huyết (blood pressure). Áp huyết thay đổi tùy lúc, và tùy các hoạt động của cơ thể. Áp huyết xuống thấp hơn lúc ta ngủ, nghỉ và lên cao hơn khi tinh thần ta kích động, buồn bực hoặc trong lúc ta tập thể dục, chơi thể thao.
Áp huyết được diễn tả bằng 2 số, thí dụ: 140/90. Số trên (140) được gọi là áp suất systolic (áp suất tâm thu): sức ép của máu vào lòng động mạch mỗi khi tim co bóp để bơm máu ra khỏi tim. Số dưới (90) được gọi áp suất diastolic (áp suất tâm trương): áp suất trong lòng động mạch khi con tim dãn ra giữa hai nhịp co bóp. Số trên tượng trưng áp suất cực đại (maximum) trong lòng động mạch, và số dưới tượng trưng áp suất cực tiểu (minimum) trong lòng động mạch. Bình thường, áp suất systolic dưới 140 và áp suất diastolic dưới 90, khoảng 120/80. Áp huyết từ 140/90 trở lên được xem là cao (đo ít nhất 2 lần, vào 2 dịp khác nhau). Tất nhiên, áp huyết càng cao càng nguy hiểm, dễ đưa đến các biến chứng tai biến mạch máu não, chết cơ tim cấp tính, suy tim hay suy thận.
Nguyên nhân
Đến 90% các trường hợp cao áp huyết, nguyên nhân của bệnh chưa được biết rõ, hoặc nói cách khác, với trình độ y khoa hiện tại, người ta chưa tìm ra được nguyên nhân. Một số nhỏ các trường hợp cao áp huyết gây do uống rượu nhiều quá, do bệnh của tuyến nội tiết, bệnh thận...
Có một số yếu tố ảnh hưởng, khiến người nọ có thể dễ mang bệnh cao áp huyết hơn người kia:
- Yếu tố gia đình: cao áp huyết có tính di truyền. Có cha mẹ, anh em ruột cao áp huyết, đi khám bác sĩ, bạn nhớ cho bác sĩ biết điều này bạn nhé.
- Đàn ông: đàn ông dễ cao áp huyết hơn phụ nữ. Tuy vậy, phụ nữ, sau khi mãn kinh, cũng dễ cao áp huyết hơn lúc còn kinh.
- Tuổi tác: cao áp huyết dễ xảy ra sau tuổi 35.
- Giòng giống: người da đen hay cao áp huyết hơn người da trắng, và bệnh cao áp huyết ở người da đen cũng nặng hơn. (Người viết chưa thấy có nhiều tài liệu viết về tỉ lệ cao áp huyết của người da vàng chúng ta, so với các sắc dân khác).
- Béo mập: khi sức nặng của ta trên sức nặng lý tưởng so với chiều cao và vóc người 30% trở lên.
- Bệnh tiểu đường: tiểu đường và cao áp huyết như đôi bạn thân, hay đi đôi với nhau, lại cùng nhau phá hoại tim và thận mạnh hơn.
- Rượu: các khảo cứu cho thấy rượu uống nhiều và thường xuyên có thể đưa đến cao áp huyết, đồng thời cũng làm tăng tỉ lệ bị tai biến mạch máu não và bệnh thận.
- Đời sống thiếu vận động: đời sống thiếu vận động dễ gây béo mập, và béo mập, như đã biết, có thể đưa đến cao áp huyết.
Biến chứng của cao áp huyết
Bệnh cao áp huyết, không chữa trị, làm hại cơ thể ta nhiều cách. Áp huyết cao hơn bình thường khiến tim và các mạch máu phải làm việc nhiều hơn. Con tim lúc nào cũng gắng sức, sau trở thành mệt mỏi, và yếu dần. Cho đến một lúc, con tim suy yếu sẽ không còn bơm đủ máu, không đáp ứng được nhu cầu của các cơ quan trong cơ thể, nhất là khi người bệnh vận động, gây các triệu chứng mau mệt, choáng váng, khó thở..., nhất là khi vận động. Áp suất cao trong các mạch máu có thể làm tổn thương thành của các mạch máu. Những chỗ tổn thương trong lòng các mạch máu dễ bị chất mỡ cholesterol và các tế bào tiểu cầu (platelet) luôn luôn có sẵn trong máu bám vào. Cơ chế dây chuyền này lại càng làm lòng các mạch máu tổn thương thêm nữa và dần dần nhỏ hẹp lại. Bạn tưởng tượng, nếu các mạch máu dẫn máu đến nuôi tim càng lúc càng tổn thương và nhỏ hẹp lại, dĩ nhiên đến một ngày nào đó, sẽ không còn mang đủ máu đến để nuôi tim. Nếu một phần tim thiếu máu nuôi trầm trọng, phần tim đó có thể chết và gây ra hiện tượng chết cơ tim cấp tính (heart attack).
Tương tự, cao áp huyết làm tổn thương các mạch máu nuôi óc, nuôi thận, nuôi mắt... gây các biến chứng tai biến mạch máu não, suy thận, giảm thị giác... So với người thường, người cao áp huyết, nếu không chữa, dễ bị bệnh hẹp hay tắc các động mạch tim khiến tim đâm thiếu máu nuôi (ischemic heart disease) gấp 3 lần, dễ suy tim gấp 6 lần, và dễ bị tai biến mạch máu não gấp 7 lần.
Định bệnh
Đa số người cao áp huyết không có triệu chứng. Một số vị có những triệu chứng mơ hồ như hồi hộp (cảm thấy tim đập mạnh), nhức đầu, chóng mặt... Cách tốt nhất, cứ 1-2 năm, dù chẳng cảm thấy mình có bệnh gì, bạn cũng nên đi khám bác sĩ và nhờ đo áp huyết, nhất là nếu bạn lại có những yếu tố không tốt như đã kể trên.
Với bác sĩ, định bệnh cao áp huyết thường chẳng khó gì. Một người xem là có cao áp huyết, nếu áp huyết cao từ 140/90 trở lên, đo 2 lần vào 2 dịp thăm khám khác nhau (người bệnh không nên dùng cà-phê, hút thuốc lá trước đó, nên ngồi nghỉ một lát, rồi áp huyết được đo ở tư thế ngồi hay nằm). Sau khi xác định một người có cao áp huyết, để tìm xem các cơ quan bên trong cơ thể đã tổn thương do cao áp huyết hay chưa, để từ đó, sẽ hoạch định đường hướng trị liệu, bác sĩ sẽ khám kỹ mắt, tim, các mạch máu. Đồng thời, bác sĩ cho thử máu, thử nước tiểu, làm tâm điện đồ, và chụp phim ngực (chest X-ray: chúng ta hay quen miệng gọi phim phổi). Những thử nghiệm và phim ngực này giúp bác sĩ tìm hiểu thêm được người bệnh có cao cholesterol trong máu hay không, tim, thận đã tổn thương vì cao áp huyết hay chưa. Đây là những yếu tố quan trọng cần nắm vững trước khi bác sĩ quyết định trị liệu bằng phương cách nào.
A, nhưng nếu bạn mang bệnh cao áp huyết, khi đi khám bệnh, bạn nên kể bệnh như thế nào nhỉ. Hay ta thử nghe một vị biết cách kể bệnh, trình bày cho bác sĩ nghe vấn đề cao áp huyết của mình:
“Tôi đến đây hôm nay nhờ bác sĩ xem hộ tôi bệnh cao áp huyết. Tôi năm nay 45 tuổi, sang Mỹ mới 1 tháng. 2 năm trước, một hôm đau bụng, tôi đi khám bác sĩ, được bác sĩ cho biết áp huyết tôi hôm đó 142 trên 90. Áp huyết đo lại 2 tuần sau đó cũng vẫn cao, 150 trên 92. Bác sĩ kết luận là tôi có cao áp huyết nhẹ. Bác sĩ cho thử máu, thử nước tiểu, làm tâm điện đồ, chụp phim phổi (tôi nghe nói, ở bên này, người Mỹ gọi là “chest X-ray”, dịch là phim ngực), và cho biết tôi không bị tiểu đường, cao cholesterol hay bị bệnh gì khác. Sau 3 tháng theo dõi và khuyên tôi bỏ thuốc lá, ăn lạt, thường xuyên vận động không có kết quả, bác sĩ cho tôi uống Aldomet 250 mg, ngày 3 lần. Áp huyết tôi xuống còn 120/80, bác sĩ bảo là bình thường. Có điều Aldomet hay làm tôi mệt mỏi và buồn ngủ. Giữa tôi với bác sĩ, tôi cũng xin nói thực, nó cũng làm vấn đề chồng vợ của tôi bị suy giảm. Tôi ngưng Aldomet từ ngày qua Mỹ 1 tháng trước, và từ đó đến nay, không dùng thuốc gì cả. Tôi hoàn toàn không có triệu chứng gì bất thường. Tôi bỏ hẳn thuốc lá 2 năm trước, khi được biết bị cao áp huyết, theo lời khuyên của bác sĩ. Tôi không uống rượu thường xuyên, chỉ thỉnh thoảng cuối tuần làm vài lon bia với bạn bè cho vui”.
Bạn cũng nhớ cho bác sĩ biết bạn có hút thuốc lá, có uống rượu, hoặc đang dùng bất cứ thuốc nào không, kể cả những thuốc mua bên ngoài không cần toa bác sĩ, vì nhiều thuốc, như thuốc ngừa thai, thuốc chữa sổ mũi, nghẹt mũi (Actifed, Dimetapp, Sudafed...) có thể làm áp huyết tăng cao.
Chữa trị
Cao áp huyết cần được chữa trị cẩn thận, để giảm thiểu những biến chứng, giúp ta sống lâu hơn và vui hơn. Sự chữa trị tùy vào mức độ của căn bệnh, và cũng tùy vào nhiều yếu tố khác.
Cao áp huyết có 3 mức độ: cao nhẹ (mild: khi áp suất tâm trương, nôm na là số dưới, cao từ 90 đến 104), cao vừa (moderate: khi số dưới từ 105 đến 119), và cao nặng (severe: số dưới từ 120 trở lên). Loại cao vừa và cao nặng chắc chắn phải dùng đến thuốc rồi. Loại cao nhẹ, tùy trường hợp, sẽ cần chữa trị sớm bằng thuốc hay không. Thí dụ, người bị cao áp huyết là đàn ông, lại hút thuốc, có thêm tiểu đường, hoặc cao chất cholesterol trong máu, dù chỉ bị cao áp huyết nhẹ, cũng cần được chữa sớm bằng thuốc. Ngược lại, một phụ nữ cao áp huyết nhẹ, và không có các bệnh khác đi kèm, có thể thử các phương pháp chữa trị chưa cần dùng thuốc trước trong vòng 3 đến 6 tháng. Sau thời gian 3 đến 6 tháng, áp huyết vẫn chưa xuống trở lại bình thường, bác sĩ có thể sẽ nghĩ đến việc phải dùng thuốc chữa cho người bệnh.
Các phương pháp chữa trị lúc chưa cần dùng thuốc: xuống cân nếu béo mập, ăn một thực phẩm ít mặn và ít chất béo, bỏ thuốc lá, bớt uống rượu, thường xuyên vận động. Mỗi người có một sức nặng lý tưởng so với chiều cao và vóc người. Nếu người cao áp huyết có sức nặng trên sức nặng lý tưởng, bác sĩ thường khuyên người bệnh tìm cách xuống ký bằng ăn kiêng (diet) và vận động (exercise).
Về mặt chữa bằng thuốc, có rất nhiều điều bác sĩ cần suy tính trước khi đặt bút biên toa. Lý tưởng, ta đưa được áp huyết xuống 130/80, dưới hơn vậy càng tốt, với một thuốc rẻ, không gây phản ứng phụ (side effects), ngày dùng chỉ một lần cho tiện. Đây là đích nhắm ta cố đạt tới, song không phải trường hợp nào cũng thực hiện được.
Thuốc chữa cao áp huyết nhiều loại, ra đời ngày càng lắm, giá cả rất khác biệt. Thuốc nào cũng có mặt lợi và mặt hại, cùng những tác dụng phụ của nó. Nếu có thể, ta bao giờ cũng nên thử những thuốc rẻ tiền trước, không được mới dùng đến thuốc đắt tiền hơn. Song nhiều thuốc đắt, bảo hiểm không cho, mua bằng tiền mặt khó mua được dài lâu. Rồi có khi người bệnh dùng thuốc đang tốt, hợp, nhưng vì đổi bảo hiểm, bảo hiểm mới không cho thuốc như bảo hiểm cũ, lại đổi thuốc, đi lại từ đầu. Ôi, nhức đầu. Chữa cao áp huyết thực không dễ.
Nhiều thuốc cao áp huyết có tác dụng chữa được cả bệnh khác, chẳng hạn các thuốc propanolol, timolol ngừa được các cơn nhức đầu một bên migraine; hai thuốc Hytrin, Cardura làm giảm các triệu chứng của bệnh to nhiếp hộ tuyến. Khéo dùng thuốc, ta có thể một ná bắn hai chim, dùng một thuốc chữa cả hai bệnh.
Bạn nên uống thuốc đều, không nên ngưng thuốc khi thấy áp huyết đã xuống lại bình thường, và nhớ trở lại tái khám đúng hẹn với bác sĩ. Cao áp huyết là bệnh kinh niên, suốt đời ta cần chữa kỹ.
Sự chữa trị nào trong y khoa cũng là dò dẫm, bạn nên để bác sĩ có dịp thi thố tài năng vài lần. Dùng một thuốc cao áp huyết không hợp, gây cho bạn phản ứng khó chịu, bạn nên trở lại cho bác sĩ biết, nhờ bác sĩ điều chỉnh sự chữa trị, có khi đổi một thuốc khác xem sao. Bạn chớ vội nghe rỉ tai: “Thuốc tây “nóng” lắm, chả nên dùng” (như thế thì... tội cho thuốc tây lắm lắm, một thuốc làm bạn khó chịu, hàng trăm thuốc khác hàm oan). Rồi mất tiền vào những chữa trị chẳng có sách vở nào nói đến, cho đến một sáng đẹp trời, bạn mở mắt thức dậy, thấy một bên người liệt vì tai biến mạch máu não. Muộn mất rồi.
Cao áp huyết, “căn bệnh thầm lặng”, lặng lẽ làm tổn thương các cơ quan của cơ thể và rút ngắn tuổi thọ. Khám phá anh chàng thầm lặng này, đặt anh ta vào vòng kiểm soát, ta cứu vãn được nhiều việc.
BÍ QUYẾT GIỮ MỨC HUYẾT ÁP
BÍ QUYẾT GIỮ MỨC HUYẾT ÁP
BS. THU HƯƠNG
Thói quen ăn uống là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới huyết áp, đặc biệt là người tăng huyết áp do di truyền thì chế độ ăn uống càng có ảnh hưởng lớn. Dưới đây là những điều quan trọng liên quan tới thói quen ăn uống, cũng như các vấn đề then chốt phải tuân theo để giữ gìn sức khỏe lâu dài.
*Chế độ ăn uống
Tăng huyết áp không phải là bệnh mà là một hội chứng do nhiều nguyên nhân gây ra, đặc biệt còn có thể đơn thuần do ăn uống ở một số người quá thừa protein, ăn quá nhiều mỡ động vật, ăn uống các chất quá dư thừa, cơ thể ít vận động, người béo phệ. Nói chung người bị tăng huyết áp cần phải tìm và chữa nguyên nhân là chính, nhưng việc ăn uống kiêng khem cũng là điều quan trọng, một số điều cần chú ý:
Đối với chất đạm (protein): Cần hạn chế không ăn nhiều, có thể ăn 0,5-1g/kg trọng lượng cơ thể người bình thường (50kg), tương đương nửa lạng thịt trong ngày để duy trì tình trạng sức khỏe bình thường.
Nên chọn loại thịt trắng (gà, vịt...) tốt hơn là các loại thịt đỏ (trâu, bò...). Không nên ăn các loại thịt tẩm ướp nhiều gia vị như lạp xường, xúc xích, dăm bông... Hạn chế ăn thịt gia súc, gia cầm non, phủ tạng động vật như gan, óc, bầu dục... vì có nhiều nucleoprotein, khi tiêu hóa sinh ra các chất purin, acid uric có hại cho gan, thận, tim, mạch.
Có thể ăn đậu đỗ để bổ sung nguồn protein thực vật cho cơ thể.
Đối với chất béo (lipid): Không nên ăn quá 30g lipid/ngày, trong đó nên ăn dầu thực vật. Những thức ăn giàu chất béo thường có nhiều cholesterol, (mỡ động vật, phủ tạng động vật...), không nên ăn, nhất là những người tăng huyết áp xơ vữa động mạch.
Đối với chất đường (glucid): Nếu ăn nhiều dễ gây béo phì, không tốt cho người tăng huyết áp, vì vậy cần giảm bớt.
Ngoài ra người bị tăng huyết áp không nên dùng các chất kích thích như rượu, cà phê, nước trà đặc, thuốc lá...
Rất tốt nếu ăn nhiều rau xanh: Rau xanh tươi chứa nhiều vitamin, ăn nhiều có lợi cho cơ thể vì nó ổn định huyết áp. Rau xanh chứa nhiều kali, có tác dụng thải loại natri ra ngoài. Vì vậy ăn nhiều rau xanh có tác dụng phòng tăng huyết áp. Rau xanh và các loại hoa quả chứa nhiều chất xơ có tác dụng thúc đẩy quá trình bài tiết ra ngoài nhanh hơn, rất tốt cho cả người huyết áp cao và huyết áp thấp, sẽ phòng ngừa được chứng bí đại tiện mà người tăng huyết áp hay mắc.
Vận động vừa sức: Sáng dậy vận động có 3 cái lợi lớn là có thể phòng bệnh béo phì, rèn luyện cơ thể làm tinh thần thoải mái, và loại trừ các áp lực. Thời gian vận động tốt nhất là 30 phút bằng cách tập thể dục, đi bộ, đi xe đạp, nhảy dây... Người tăng huyết áp trước khi vận động mạnh cần kiểm tra tim thật cẩn thận, lựa chọn cách vận động thích hợp để tránh xảy ra sự việc.
*Duy trì không khí gia đình vui vẻ
Cả nhà đoàn tụ là "liều thuốc ổn định huyết áp": nhịp sống hiện đại luôn căng thẳng bận rộn và nhiều áp lực, đó là một trong những nguyên nhân gây tăng huyết áp, nhưng muốn thay đổi những áp lực đó không phải dễ, chỉ có gia đình mới có thể làm giảm và loại trừ những áp lực đó. Rất nhiều trường hợp người bệnh uống thuốc theo đơn bác sĩ mà vẫn không khỏi, nhưng bệnh lại thuyên giảm do có cuộc sống gia đình hòa hợp. Để luôn giữ cho huyết áp ở mức bình thường cần phải có môi trường gia đình vui vẻ, hòa hợp, ấm áp. Nếu vợ chồng hay cãi cọ nhau hoặc giữa cha con, mẹ con có rạn nứt thì nhất định sẽ làm huyết áp tăng lên.
*Không được sống buông thả
Không có gì hại hơn là chơi bời thâu đêm, nhảy nhót, đánh bạc... khiến người mệt mỏi, tinh thần luôn căng thẳng, trạng thái đó luôn thúc đẩy trở thành tăng huyết áp, làm cho tim phải chịu gánh nặng hơn.
Cuộc sống tình dục của người tăng huyết áp không được quá độ vì hoạt động tình dục tốn rất nhiều sức lực dễ gây hậu quả xấu, nên "sinh hoạt" khi trong người thư thái thoải mái, có nhiều thời gian nghỉ ngơi.
*Luôn cảnh giác, tránh lo lắng
Độ tuổi thanh thiếu niên: Ngay từ nhỏ rèn cho trẻ thói quen ăn uống, không cho trẻ ăn quá mặn và quá thừa dinh dưỡng, vì đó là nguyên nhân gây béo phì và xơ cứng động mạch.
Ở độ tuổi 20-30: Thời kỳ này cần tạo thói quen ăn uống hợp lý, sao cho không bị béo phì. Đây là thời kỳ đẹp nhất của đời người, rất dễ vì mục đích phấn đấu vươn lên mà không quan tâm đến sức khỏe, chủ quan cho là mình có thể lực dồi dào, quá coi trọng công việc và vui chơi làm huyết áp tăng lên, kết quả là rất dễ mắc bệnh tăng huyết áp.
Ở trên 40 tuổi: Ở độ tuổi này càng cần chú ý tới việc điều tiết ăn uống, vì lúc này lượng vận động giảm nhiều, nếu ăn nhiều sẽ bị phát phì. Đây cũng là thời kỳ huyết áp dễ thay đổi nhất nên hết sức lưu ý kiểm tra thường xuyên. Thời kỳ đầu bị tăng huyết áp dễ dẫn tới đau đầu, đau bả vai, huyết áp cũng lên xuống thất thường. Người trong độ tuổi 40-50 bị xuất huyết não cũng không hiếm, cho nên càng phải chú ý không làm việc quá sức, không vận động quá nhiều làm người mệt nhoài, mọi hoạt động phải hài hòa đúng mực.
Ở độ tuổi trên 50: Định kỳ đo huyết áp là cần thiết dù là người bình thường hay người bị tăng huyết áp đều phải biết tình trạng huyết áp của mình để phòng ngừa và chữa trị cho hiệu quả.
Ở độ tuổi trên 60: Cần chú ý tới chất và lượng bữa ăn, không ăn nhiều, ăn quá no. Người cao tuổi vị giác cũng không nhạy cảm nên thường thấy thức ăn nhạt nhẽo, thích ăn thêm nhiều gia vị, như vậy lượng muối ăn cũng nhiều lên gây ảnh hưởng xấu tới cơ thể, vì vậy người già cần chú ý không ăn nhiều muối, đường./.
Thuốc chữa tăng huyết áp và hiện tượng yếu sinh lý
- Reserpin, kể cả cao ba gạc: Thuốc này tuy rẻ tiền và hiệu quả nhưng có thể gây giảm dương. Các thuốc Dopegyt và Catapressan cũng có thể ảnh hưởng đến chức năng tính dục nhưng ở mức độ ít hơn.
- Các thuốc chẹn beta giao cảm như Propranolol, Alvocardyl, Inderal, Pindolol (Visken): Đây là những thuốc chẹn beta không chọn lọc, chẹn cả thụ thể beta 1 và beta 2, hiện ít được dùng để chữa bệnh tăng huyết áp.
Cần lưu ý là những thuốc chẹn beta có chọn lọc (tức chỉ chẹn beta 1 thì không ảnh hưởng gì đến chức năng tình dục cả. Đó là các thuốc Atenolol (Tenormin), Metoprolol (Betaloc), Bisoprolol (Concor).
- Các thuốc chẹn alpha giao cảm như Phentolamin (Regitine), Prazosin (Minipress), Terazosin: Những thuốc này rất ít được dùng để chữa cao huyết áp, chủ yếu dùng trong điều trị phì đại tuyến tiền liệt.
- Các thuốc lợi tiểu kháng Aldosterol như Aldactone, Verospirone: Ảnh hưởng xấu đến sinh lý nên cũng ít khi được các bác sĩ kê đơn chữa tăng huyết áp.
Các thuốc lợi tiểu khác như Hypothiazid hoặc Lasix rất ít khi ảnh hưởng đến tình dục.
Những thuốc chữa cao huyết áp không ảnh hưởng đến sinh lý:
- Các thuốc chẹn thụ thể AT2 như Irbesartan (Aprovel), Losartan (Cozaar).
- Các thuốc ức chế enzym chuyển như Enalapril (Renitec, Ednyt), Captopril (Capoten), Lisinopril (Zestril).
- Các thuốc chặn kênh canxi như Amlodipine (Amlor), Nifedipin chậm (Adalat chậm), Diltiazem (Tildiem).
- Các thuốc chẹn beta có chọn lọc như đã nói ở trên.
Ba nhóm thuốc này tuy hơi đắt nhưng hiệu quả tốt và ít phản ứng bất lợi, đặc biệt là không gây giảm dương.
Nếu cảm giác yếu sinh lý xuất hiện sau khi dùng thuốc chữa tăng huyết áp dài ngày, bạn nên đến khám bác sĩ để tìm nguyên nhân, không nên tự động dùng thuốc.
Rượu và bệnh tim mạch
(Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh)
Nhiều bệnh tim mạch và mạch máu của não có liên quan đến việc uống rượu, gây gia tăng đáng kể về tỷ lệ bệnh và tỷ lệ tử vong. Trên thực tế, rượu có nhiều ảnh hưởng trên hệ tim mạch. Cả hai tình trạng nghiện rượu cấp tính hay nghiện rượu mãn tính đều ảnh hưởng đến huyết áp của người uống rượu. Nếu uống rượu nhiều và uống lâu dài có thể ảnh hưởng lên cơ tim, từ đó sẽ dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng như: rối loạn nhịp tim, rung nhĩ…
Rượu và chứng tăng huyết áp
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên một số lượng khá lớn bệnh nhân cho thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa việc uống rượu và tăng huyết áp. Một công trình nghiên cứu tiến hành trên 4.626 đàn ông và 4.647 đàn bà tuổi trung bình từ 20-59 của 32 quốc gia cho thấy: những đàn ông uống từ 300-499 ml rượu mỗi tuần, tức trên 60 ml rượu mỗi ngày có huyết áp tâm thu trung bình cao hơn những người không uống rượu là 2,7 mmHg của huyết áp tâm thu và 1,6 mmHg huyết áp tâm trương. Những người đàn ông nào uống trên 500 ml rượu mỗi tuần sẽ có huyết áp tâm thu và tâm trương cao hơn những người không uống rượu là 4,6/3. Trong khi những phụ nữ nếu uống trên 300 ml rượu mỗi tuần sẽ có huyết áp cao hơn những phụ nữ không uống rượu là 3,9/3,1 mmHg.
Cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu cho thấy: những người uống các loại rượu có độ cồn cao, rượu nặng sẽ có biến chứng cao huyết áp nhiều hơn so với những người uống các loại rượu có độ cồn thấp.
Rượu và bệnh thiếu máu cơ tim
Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa những người uống rượu bị bệnh thiếu máu cơ tim và nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên sự liên quan này sẽ tỷ lệ nghịch với lượng rượu uống mỗi ngày. Có nghĩa là: uống rượu vừa phải thì tỷ lệ bệnh thiếu máu và nhồi máu cơ tim sẽ giảm, còn nếu uống nhiều rượu quá thì nguy cơ thiếu máu và nhồi máu cơ tim sẽ gia tăng. Ngoài ra, rượu cũng làm giảm lượng chất Fibrinogen trong máu cũng như giảm quá trình kích hoạt tiểu cầu, từ đó làm giảm khả năng hình thành các cục máu đông trong lòng mạch. Vấn đề này có lẽ liên quan đến sự hiện diện của nhiều chất chống oxy hóa trong rượu vang đỏ của Pháp. Đây là một lợi điểm đáng lưu ý của rượu vang đỏ.
Rượu làm rối loạn nhịp tim
Người nghiện rượu nặng, sau những đợt uống nhiều rượu, có thể có những đợt bị rối loạn nhịp tim, đặc biệt là ngoại tâm thu trên thất. Người ta thường gọi Hội chứng ngày nghỉ lễ, nhằm để chỉ những rối loạn nhịp tim ở những người có trái tim bình thường sau những đợt uống nhiều rượu của những ngày nghỉ lễ hoặc hội hè. Ở những người dưới 65 tuổi thì uống nhiều rượu sẽ là một nguyên nhân chính, chiếm đến 63% các trường hợp loạn nhịp tim kiểu rung nhĩ.
Uống nhiều rượu có thể gây suy tim
Rượu có thể gây tác hại trực tiếp trên cơ tim, nhất là tâm thất bên trái và có thể dẫn đến suy tim. Một nguyên nhân nữa thúc đẩy quá trình này là do trong khẩu phần ăn của những người nghiện rượu thường thiếu vitamin B1, và sự thiếu hụt này sẽ dẫn đến suy tim. Người ta gọi những trường hợp này là bệnh cơ tim do rượu.
Với các mạch máu ngoại vi
Với các mạch máu ngoại vi như: động mạch đùi, khoeo, cánh tay… thì rượu làm giảm bớt nhiều khả năng mắc bệnh. Một nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ người uống rượu mỗi ngày bị bệnh động mạch ngoại vi chỉ bằng 0,92 so với người không uống hay chỉ uống dưới 1 lần một tuần. Tác hại của thuốc lá ở những mạch máu này rõ ràng hơn nhiều.
Rượu và thú vui trần thế
Những người uống rượu với mức độ vừa phải thì sẽ giảm 40-70% nguy cơ mắc bệnh động mạch vành so với những người không uống hoặc uống quá nhiều rượu. Một nghiên cứu khác cho thấy, nếu uống rượu điều độ, nhất là với các loại rượu vang đỏ, người sử dụng ít bị bệnh Parkinson và thoái não khi lớn tuổi.
Ở những người bình thường, với đàn ông có thể uống dưới 21 ly rượu/tuần và dưới 14 ly/tuần với phụ nữ. Thực tế ít người biết dừng lại ở mức độ cho phép và rượu cũng là nguyên nhân gây ra bao thảm cảnh cho mỗi con người, mỗi gia đình và cho cả xã hội. Làm thế nào để dung hòa được giữa sức khỏe và "thú vui trần thế" là bài toán nan giải vì thật sự sự tồn tại của mỗi con người khó thể tách rời hai lĩnh vực trên.
Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2009
TĂNG HUYẾT ÁP - CÁCH NHẬN BIẾT, ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA
1- Huyết áp
Huyết áp (HA) là áp lực của dòng máu tác động lên thành động mạch (áp lực này được gọi là huyết áp động mạch).Khi tim co bóp, máu sẽ được tống ra ngoài và ép vào thành động mạch làm thành mạch căng ra. {josquote}Tăng huyết áp: kẻ giết người thầm lặng{/josquote} Số đo sức căng thành động mạch khi máu dội vào là huyết áp tâm thu hay huyết áp cao nhất. vào thời điểm này nếu lấy tay sờ vào các động mạch cổ, bẹn sẽ thấy mạch đập. Sau khi co bóp tim sẽ dãn ra và thành động mạch sẽ co lại về trạng thái ban đầu, số đo vào thời điểm này là huyết áp tâm trương hay huyết áp thấp nhất.
2- Sự dao động của huyết áp
Ở người bình thường HA ban ngày cao hơn ban đêm, HA hạ xuống thấp nhất vào 1-3 giờ sáng khi ngủ say và HA cao nhất từ 8-10 giờ sáng. Khi vận động, gắng sức thể lực, căng thẳng thần kinh, xúc động mạnh… đều có thể làm HA tăng lên. Ngược lại khi nghỉ ngơi, thư giãn làm HA hạ xuống.
Khi bị lạnh gây co mạch, hoặc dùng 1 số thuốc co mạch (ví dụ thuốc nhỏ mũi) hoặc thuốc tăng co bóp cơ tim, ăn mặn có thể làm HA tăng lên.Ở môi trường nóng, ra nhiều mồ hôi, bị tiêu chảy…hoặc dùng thuốc dãn mạch có thể gây hạ HA.
3- Thế nào là tăng huyết áp?
HA lên xuống trong những điều kiện nhất định là bình thường. Tăng HA là khi HA của bạn lúc nào cũng cao hơn mức bình thường lúc tim co bóp (tâm thu), và hoặc lúc tim dãn ra (tâm trương).
HA được gọi là tăng khi >140/90mmHg sau khi đo lập đi lập lại nhiều lần và đúng cách.
Người ta không chẩn đoán tăng HA qua 1 lần đo. Khi người ta đo HA của bạn và thấy >140/90mmHg, thì có thể bác sĩ sẽ yêu cầu bạn trở lại đo HA thêm hơn 2 lần nữa trong khoảng thời gian ít nhất là 4 tuần mới có thể khẳng định là bạn có tăng HA hay không trừ khi đo 1 lần HA ³ 180/110mmHg hoặc có tổn thương cơ quan đích ( tim, thận, não, mạch máu).
4- Huyết áp thấp có nguy hiểm không?
Một người từ lâu có HA=90/50mmHg vẫn làm việc bình thường, không có gì nguy hiểm.Một người lớn từ lâu có HA = 130/80mmHg, nay vì lý do gì đó HA hạ xuống còn 90/50mmHg cần được khám.
5- Tại sao người ta lấy mốc 140/90mmHg là tăng. Tại sao phải hạ huyết áp? Nó có lợi gì?
Từ nghiên cứu lớn về dịch tể (Framingham) thấy rằng những người tăng HA (³ 140/90mmHg ) bị tai biến mạch máu não tăng 4 lần và suy tim tăng 6 lần so với người có HA kiểm soát bình thường.
Khi người tăng HA được kiểm soát HA tốt thì giảm được 35% - 40% nguy cơ đột quị, giaûm 20 – 25% nguy cơ nhồi máu cơ tim và giảm > 50% nguy cơ suy tim.
6- Phân độ tăng HA
Để biết bệnh tăng HA nặng hay nhẹ, khi nào cần điều trị và khi nào cần điều trị tích cực, năm 2003, Liên Ủy ban Quốc gia về tăng HA của Hoa Kỳ ( JNC) đưa ra phân độ ở người ³ 18 tuổi.
| Loại | Huyết áp tâm thu (mmHg) | Huyết áp tâm trương (mmHg) |
| Bình thường | <120 | <80 |
| Tiền tăng HA | 120-139 | 80-89 |
| Tăng HA | | |
| Giai đoạn 1 | 140-159 | 90-99 |
| Giai đoạn 2 | >160 | >100 |
| Tăng HA tâm thu đơn thuần | >140 | <90 |
{mosimage} Cách tốt nhất để biết bị bệnh tăng HA là đo HA đúng phương pháp bằng HA kế. Phương pháp đo tại nhà (chính bạn tự đo hoặc người nhà) và đo tại phòng khám ( bác sĩ hoặc y tá đo).Cách đo huyết áp:
- Tình trạng bệnh nhân: không hút thuốc lá hoặc uống café 15-30 phút trước khi đo.
- Tư thế đo: bệnh nhân nằm ngữa hoặc ngồi nghỉ 5 phút trước khi đo. Cánh tay đo để ngang mức tim.
- Trang bị: túi hơi phải bao trọn chu vi cánh tay và 2/3 chiều dài cánh tay, nếu túi hơi nhỏ thị trị số HA cao giả.
- Phương pháp tiến hành:
+ Bơm nhanh túi hơi vượt quá trị số tâm thu 20-30mmHg (được nhận biết bằng mất mạch quay) và xả túi hơi chậm 3mmHg/giây.
+ Chỉ số HA tâm thu là khi xuất hiện tiếng đập đầu tiên.
+ Chỉ số tâm trương là khi mất hẳn tiếng mạch đập.
8- Tại sao bị tăng huyết áp?
Khoảng 93-95% trường hợp tăng HA vẫn chưa biết được nguyên nhân. Loại tăng HA này gọi là tăng HA nguyên phát. 5-7% còn lại là tăng HA thứ phát tức là có nguyên nhân ( ví dụ: bệnh thận, bệnh cường giáp, hẹp eo động mạch chủ, hội chứng Cushing, dùng thuốc…). Nếu tìm được nguyên nhân và điều trị triệt để nguyên nhân đó thì tăng HA có thể khỏi hẳn.
9- Hậu quả tăng huyết áp lên các cơ quan đích như thế nào?- Tim : gây dày thành tâm thất trái, loạn nhịp sau đó dẫn đến suy tim, hẹp động mạch vành, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim..- Não: xuất huyết não, nhũn não, cơn thiếu máu não thoáng qua, sa sút trí tuệ- Thận: suy thận- Mạch máu: phình và bóc tách động mạch chủ, tổn thương mạch máu đáy mắt.
10- Các nguy cơ của tăng huyết ápTăng HA nguyên phát là tăng HA không tìm được nguyên nhân, nhưng có nhiều yếu tố có thể phối hợp với nhau để làm tăng HA:
Tuổi: tuổi càng cao tỉ lệ tăng HA càng cao : hơn 1/2 những người từ 60-69 tuổi và gần 3/4 những người lớn hơn 70 tuổi bị tăng HA.
- Di truyền: cha, mẹ bị tăng HA sẽ có con có khả năng dễ tăng HA hơn so với người khác.
- Giới tính: nam > 55 tuổi, nữ > 65 tuổi.
- Béo phì : làm tăng co mạch máu nên tăng HA, rối loạn chuyển hóa mỡ. Người có chỉ số khối lượng cơ thể BMI (BMI =P/h2: P trọng lượng cơ thể tính bằng kg, h: chiều cao tính bằng m) bằng 26 bị tăng HA gấp 4 lần và tiểu đường gấp 6 lần so với người có BMI = 21.
- Tiểu đường- Hút thuốc lá : làm tim đập nhanh hơn, mạch máu co lại.
- Ít vận động
- Stress : có 2 loại stress, loại từ các áp lực bên ngoài như công việc, cuộc sống gia đình và loại từ bên trong bản thân như trạng thái lo âu, trầm cảm. Khi stress cơ thể sẽ phản ứng tăng nhịp tim và HA sẽ tăng lên.
- Thói quen ăn mặn: làm giữ muối, nước gây tăng thể tích máu do đó tăng HA .
11- Làm thế nào để giảm và kiểm soát bệnh tăng huyết áp mà không cần đến thuốc?
- Giảm cân : béo phì hoặc quá cân nếu giảm 10kg để BMI nằm trong khoảng 18,5-24,5 làm giảm HA tâm thu 5-20mmHg.Chế độ ăn nhiều trái cây, rau, sản phẩm sữa ít mỡ bão hòa, ít mỡ toàn phần làm giảm HA tâm thu 8-14mmHg.
- Giảm lượng muối ăn vào hàng ngày, không ăn quá 1 muỗng cà phê muối ( <>
- Vận động thể lực: tham gia vào các hoạt động thể lực vừa sức như đi bộ ít nhất 30 phút mỗi ngày và mọi ngày trong tuần.
- Hạn chế hay uống rượu bia vừa phải : uống ít hơn 80ml rượu mạnh, 600ml bia và 250ml rượu vang trong 1 ngày.
- Bỏ thuốc lá.
- Hạn chế căng thẳng, nghỉ ngơi thư giãn, giải trí.
12- Khi nào thì bắt đầu dùng thuốc điều trị tăng huyết áp?
Sau khi đã dùng các biện pháp không dùng thuốc từ 3-6 tháng ( trừ khi đo HA > 180/110mmHg thì điều trị ngay) như trên mà HA bạn vẫn chưa hạ về mục tiêu, lúc này dùng thuốc. Mục tiêu là HA <>
Ngày nay có rất nhiều nhóm thuốc điều trị tăng HA, mỗi nhóm có cơ chế tác dụng khác nhau và thích hợp với từng người bệnh khác nhau ( tuổi, bệnh kèm theo, tăng HA có gây tổn thương cơ quan đích nào chưa...). Vì vậy bệnh nhân nên đến bác sĩ chuyên khoa để được khám và cho thuốc thích hợp, để bệnh nhân được hưởng lợi nhiều nhất về bảo vệ tim mạch từ thuốc được cho.
Người bệnh cần điều trị lâu dài, liên tục nên cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa bác sĩ, bệnh nhân và gia đình trong quá trình điều trị.Do điều trị lâu dài nên người bệnh cần hiểu về bệnh, tuân thủ điều trị và tái khám đúng hẹn. Nên tham gia các chương trình sinh hoạt khoa học giữa các chuyên gia và bệnh nhân bệnh tăng HA.
Cần theo chặt chẽ hướng dẫn của bác sĩ, không tự ý bỏ thuốc hoặc thay đổi thuốc, nếu có triệu chứng gì lạ nên hỏi bác sĩ điều trị. Ngày nay có nhiều dạng thuốc kết hợp nhiều loại thuốc khác nhóm thành 1 viên, chỉ dùng ngày 1 lần, nên người bệnh tuân thủ điều trị dễ dàng hơn.Trong khi dùng thuốc thì vẫn phải thực hiện biện pháp không dùng thuốc.
13- Khi bị bệnh tăng huyết áp cần làm những xét nghiệm cơ bản gì?
1. Đếm số lượng hồng cầu trong máu
2. Đo lượng đường trong máu
3. Thử chức năng thận
4. Đo các thành phần mỡ trong máu
5. Đo điện tâm đồ
6. Chụp X quang tim phổi
7. Siêu âm tim nếu có điều kiện
8. Tổng phân tích nước tiểu
14- Nên có thái độ thế nào để sống tốt khi bị bệnh tăng huyết áp?
- Bắt đầu và tiếp tục điều trị ngay cả khi bạn không có triệu chứng khó chịu do tăng HA gây ra vì tăng HA có thể dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng nếu như không kiểm soát tốt.
- Việc kiểm soát HA tốt mang lại nhiều lợi ích quan trọng hơn nhiều so với vài tác dụng phụ tạm thời do thuốc gây ra.Đừng nản chí vì có thể dùng thuốc suốt đời.Nên tái khám định kỳKhông tự mua thuốc hạ HA uống
- Không chỉ uống thuốc khi HA tăng cao và ngưng thuốc khi HA về bình thường.
- Không dùng lại toa thuốc cũ trong 1 thời gian dài không tái khám.
Thứ Hai, 6 tháng 7, 2009
1 tỉ người trên toàn cầu bị cao huyết áp
1 tỉ người trên toàn cầu bị cao huyết áp
Nghiên cứu mới nhất về bệnh cao huyết áp đã đưa ra những con số giật mình: Gần 1 tỷ người trên toàn thế giới đang bị cao huyết áp, và đến năm 2025, con số này sẽ tăng lên 50%. Trong khi đó, những bất cập trong điều trị và nhận thức vẫn chưa được khắc phục
Đây là công trình nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu lần đầu tiên về ảnh hưởng của bệnh cao huyết áp, một bệnh được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”.
Trong báo cáo này, các chuyên gia nêu rõ ý tưởng bao trùm nghiên cứu là: “Kêu gọi chính phủ các nước tăng cường phòng chống cao huyết áp, giống như trường hợp nhiều quốc gia đã từng liên kết với nhau để chống các bệnh truyền nhiễm trong quá khứ”.
1,56 tỉ người bị cao huyết áp vào năm 2025
Nhóm nghiên cứu đã đưa ra một thông điệp cho biết một cuộc khủng hoảng y tế đang đến gần: sẽ có 1,56 tỉ người trên toàn thế giới mắc bệnh cao huyết áp vào năm 2025.
Tiến sĩ Jan Ostergren thuộc Bệnh viện Karolinska ở Thụy Điển, đồng tác giả của nghiên cứu này, cho biết cao huyết áp không chỉ là một vấn đề sức khỏe của các nước phương Tây, mà tại nhiều khu vực khác trên thế giới, bệnh này đang ngày càng trở nên phổ biến.
Tại nhiều vùng ở Ấn Độ, 1/3 dân cư thành thị bị cao huyết áp, trong khi bệnh này lại hiếm có ở các vùng nông thôn - những nơi vẫn duy trì lối sống truyền thống. Ở Trung Quốc, hơn 1/4 người lớn bị cao huyết áp. Mức độ tương tự như thế được ghi nhận ở
Theo ông Weber, ngay cả nước Mỹ cũng cần cải thiện tình hình. Cao huyết áp đang ảnh hưởng đến gần 1/3 người lớn ở nước này, tức khoảng 72 triệu người. Ở Mỹ, người Mỹ da đen là nhóm có nguy cơ cao, với khoảng 40% dân Mỹ da đen bị cao huyết áp. Tuy nhiên, tỉ lệ cao huyết áp ở Mỹ thấp hơn so với phần lớn Tây Âu, trong đó:
Theo báo cáo, dân số thế giới đang già đi nhưng lại béo ra, khiến cho tình trạng cao huyết áp không ngừng tăng lên trên phạm vi toàn cầu. Nhưng các chuyên gia cảnh báo rằng tốc độ tăng cao nhất của bệnh cao huyết áp được dự kiến sẽ xảy ra ở các nước đang phát triển và những nước có nền kinh tế đang chuyển hướng nhanh theo kiểu phương Tây.
Cần cải thiện công tác điều trị
Theo nhóm nghiên cứu, cao nguyên áp là nguyên nhân quan trọng làm cho hàng triệu người tử vong chỉ riêng vì bệnh tim hàng năm. Nhưng bệnh này lại chưa được quan tâm đúng mức như bệnh cúm gia cầm - căn bệnh gây ra chưa đến 200 trường hợp tử vong từ trước đến nay.
Và những mối hiểm nguy không chỉ có đối với bệnh tim. Huyết áp cao là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến đột quỵ và suy thận. Nó cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra mù lòa và mất trí.
Tiến sĩ Sidney Smith, chuyên gia của trường Đại học North Carolina ở Chapel Hill và là cố vấn của Liên đoàn Tim thế giới, phát biểu: “Ngay cả ở Mỹ, đa số người dân bị cao huyết áp còn chưa được điều trị đến nơi đến chốn. Ông nói tiếp: “Cứ nhìn vào Trung Quốc, cứ nhìn vào châu Phi, cứ xem xét trên cả thế giới này. Cao huyết áp là một nhân tố nguy cơ cao đối với sức khỏe con người”.
Theo báo cáo, chỉ có khoảng 1/3 bệnh nhân cao huyết áp ở Mỹ được kiểm soát tốt, nhưng dù sao vẫn khá hơn nhiều so với những nước không có đủ phương tiện điều trị cho dân chúng.
Trong nhiều trường hợp, điều trị cao huyết áp là một việc khó khăn, vì bệnh nhân thường không uống thuốc đầy đủ và không hiểu rằng việc uống thuốc vẫn là cần thiết ngay cả khi họ cảm thấy khỏe trong người. Hơn nữa, bệnh nhân hiếm khi chú ý đến những triệu chứng của cao huyết áp cho đến khi xảy ra thương tổn ở các bộ phận trong cơ thể.
Trong khi đó, việc điều trị trước khi điều đó xảy ra sẽ mang lại nhiều hiệu quả. Cải thiện chế độ ăn uống và tập thể dục là những biện pháp hữu hiệu để phòng chống cao huyết áp, và nếu cần thì sử dụng thuốc làm hạ huyết áp.
Cần thay đổi về nhận thức
Nghiên cứu này cũng kêu gọi thực hiện một sự thay đổi về nhận thức đối với bệnh cao huyết áp.
Tại Hoa Kỳ, việc thương xót cho những người tử vong vì cao huyết áp là một chủ đề được chấp nhận ở bàn ăn. Và bệnh này đã trở thành một chủ đề thuyết giảng tại các nhà thờ và những buổi chiếu phim minh họa sau các buổi lễ nhà thờ là chuyện bình thường. Ngay cả chính phủ cũng ca ngợi và khuyến khích những hoạt động như vậy.
Trong khi đó, theo tiến sĩ Michael Weber, thuộc Trường Đại học Y khoa SUNY’s Downstate, sự công khai về bệnh cao huyết áp chưa được thực hiện tại một số nơi trên thế giới.
Theo Minh Quang ( VNN/ AP/ Times)
Bệnh tăng huyết áp ở người trẻ
Phẫu thuật điều trị tai biến tim mạch cho bệnh nhân bị tăng huyết áp tại Bệnh viện Nhân dân 115 (TPHCM). Ảnh:
Đa số được phát hiện tình cờ
Tăng huyết áp ở người trẻ có đến 70% là không có triệu chứng và được phát hiện tình cờ trong đợt khám sức khỏe định kỳ hoặc bệnh nhân đến khám bệnh vì lý do khác. Sau khi được kết luận là bị tăng huyết áp những bệnh nhân trẻ tuổi không thực sự tin là mình bị tăng huyết áp vì bản thân họ không thấy biểu hiện nhức đầu hay chóng mặt, trong nhiều trường hợp họ không trở lại tái khám, cho đến khi bị tai biến.
Đặc điểm tăng huyết áp ở người trẻ là đa số không có triệu chứng điển hình như nhức đầu, chóng mặt. Tăng huyết áp ở người trẻ thường bị cao số huyết áp dưới, ví dụ 120/95 mmHg, trong khi tăng huyết áp ở người cao tuổi thường là tăng số huyết áp trên, ví dụ 170/80 mmHg. Dấu hiệu không điển hình của tăng huyết áp ở người trẻ có thể gặp như khó kiềm chế cảm xúc, dễ nóng giận, dễ mất tập trung, dễ ảnh hưởng đến công việc, giao tiếp...
Tăng huyết áp gây các biến chứng trên tim mạch, tai biến mạch máu não... Ngoài ra, ở người trẻ bị tăng huyết áp thì tỉ lệ rối loạn chức năng tình dục cao gấp 2,5 lần so với người không bị tăng huyết áp. tỉ lệ này còn cao hơn khi người trẻ bị tăng huyết áp kèm theo các bệnh khác như đái tháo đường, bệnh lý thận mãn... Họ cũng dễ bị rối loạn cảm xúc theo chiều hướng dễ nóng giận, mất kiềm chế...
Các yếu tố cản trở việc điều trị tăng huyết áp ở người trẻ xuất phát từ tâm lý không chấp nhận mình bị tăng huyết áp vì cảm thấy cơ thể khỏe mạnh bình thường, tâm lý che giấu bệnh vì sợ ảnh hưởng việc thăng tiến trong công việc.
Nguyên nhân chủ yếu do lối sống
Nguyên nhân gây tăng huyết áp ở người lớn tuổi có đến 95% trường hợp không có nguyên nhân, chỉ khoảng 5% có nguyên nhân. Tuy nhiên, ở người trẻ, tỉ lệ tăng huyết áp có nguyên nhân cao hơn so với người lớn tuổi. Các nguyên nhân có thể gặp là bệnh lý thận mãn tính, mất thăng bằng nội tiết tố, dùng nhiều rượu hoặc cocaine... Ngoài ra, các yếu tố góp phần làm tăng huyết áp là hút thuốc lá (kể cả hút thuốc lá thụ động), béo phì, stress, lối sống tĩnh tại, ăn quá mặn, uống nhiều rượu.
Để phòng ngừa tăng huyết áp ở người trẻ tuổi, cần thực hiện giảm cân nếu bị béo phì. Nên áp dụng chế độ ăn giảm cân: ít đường, ít mỡ, nhiều chất đạm và chất xơ. Ngoài ra, nên giảm bớt khẩu phần trong mỗi bữa ăn chứ không nên giảm bớt số bữa ăn hằng ngày. Không nên ăn quà bánh vặt, nên ăn lạt. Chỉ nên ăn không quá 1 muỗng cà phê đến 1,5 muỗng cà phê muối mỗi ngày.
Lượng muối này bao gồm cả lượng muối được nêm trong thức ăn và nước chấm. Nên ăn thức ăn có chứa nhiều các chất kali (có nhiều trong chuối, nước dừa, đậu trắng...), can-xi (có nhiều trong sữa, tôm, cua...), ma-giê (có nhiều trong thịt) để hoạt động của hệ tim mạch được ổn định. Nên ăn chất đạm có nguồn gốc từ cá và thực vật hơn là các loại thịt heo, bò, gà...
Không nên ăn quá ngọt ngay cả khi không bị tiểu đường... Hạn chế ăn mỡ động vật và dầu dừa. Tốt nhất là dùng dầu ô-liu, dầu hướng dương. Nên ăn nhiều rau cải, trái cây để cung cấp nhiều chất khoáng, vitamin và chất xơ. Hạn chế uống nhiều rượu. Đối với nam giới, nên uống tối đa 720 ml bia, tương đương 2 lon bia, mỗi ngày 300 ml rượu vang hoặc 60 ml whisky.
Đối với phụ nữ và người nhẹ cân nên dùng không quá nửa liều trên. Nên rèn luyện thân thể, thường xuyên tập thể dục đều đặn mỗi ngày, mỗi lần khoảng 30-45 phút. Nên dùng các loại hình như dưỡng sinh, đi bộ, chạy bộ... và tuyệt đối không được gắng sức. Giữ nếp sinh hoạt điều độ, ổn định, tránh trạng thái xúc động, lo âu. Ngưng hút thuốc lá. Khi điều trị dùng thuốc, người bệnh nên tuân thủ lời dặn của bác sĩ, không nên tự ý ngừng thuốc
| Chú ý giai đoạn tiền tăng huyết áp
|