Thứ Hai, 29 tháng 6, 2009

Điều trị bệnh nhân tăng huyết áp tại nhà

Điều trị bệnh nhân tăng huyết áp tại nhà

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì khi chỉ số huyết áp thấp hơn hoặc bằng 120/80mmHg được xem là huyết áp tối ưu không gây hại cho sức khỏe; trong đó 120 gọi là số huyết áp tối đa (biểu hiện sức bóp của tim), 80 là số huyết áp tối thiểu (biểu hiện sức cản của thành mạch máu). Khi nào huyết áp tối đa đo được lớn hơn 140mmHg hoặc số huyết áp tối thiểu có chỉ số trên 90mmHg thì được coi là tăng huyết áp.

Trong tăng áp, WHO cũng chia làm 3 mức độ: Tăng huyết áp độ 1 (tăng huyết áp nhẹ) khi trị số huyết áp tối đa từ 140-159mmHg hoặc chỉ số huyết áp tối thiểu từ 90-99mmHg.

Tăng huyết áp độ 2 (tăng huyết áp trung bình) khi huyết áp tối đa từ 160-179mmHg hoặc chỉ số huyết áp tối thiểu từ 100-109mmHg.

Tăng huyết áp độ 3 (tăng huyết áp nặng) khi huyết áp tối đa đo được từ 180mmHg trở lên hoặc huyết áp tối thiểu từ 110mmHg trở lên. Đối với người bệnh tăng huyết áp được điều trị tại nhà thì vấn đề khống chế huyết áp và theo dõi để kiểm soát các yếu tố làm tác động đến sức khỏe là rất quan trọng, đó là: các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch; các yếu tố nguy cơ gây tổn thương nội tạng trong cơ thể do tăng huyết áp; tăng huyết áp kèm theo bệnh đái tháo đường. Khi càng có nhiều yếu tố nguy cơ thì khả năng bị tai biến do bệnh tăng huyết áp càng tăng lên.

Để điều trị tốt bệnh tăng huyết áp và phòng ngừa nguy cơ, người bệnh cần tuân thủ các nguyên tắc sau: uống thuốc và áp dụng chế độ ăn nhạt, ăn đủ dinh dưỡng để khống chế huyết áp dưới mức 140/90mmHg; điều trị các bệnh kèm theo. Cụ thể là: Nếu bị béo phì, nên áp dụng chế độ ăn giảm cân: ít đường, ít mỡ, nhiều chất đạm và chất xơ rau quả, trái cây; ăn nhạt; ăn chất đạm có nguồn gốc từ cá và thực vật tốt hơn là chất đạm từ thịt gia súc, gia cầm; không nên ăn quá ngọt ngay cả khi không bị bệnh đái tháo đường; hạn chế ăn mỡ động vật và dầu dừa mà nên dùng dầu hướng dương, dầu vừng, dầu đậu nành; nên ăn nhiều rau cải, trái cây để cung cấp nhiều chất khoáng, vitamin và chất xơ.

Ngoài ra bắt buộc phải bỏ những thói quen xấu như uống nhiều rượu; hút thuốc lào, thuốc lá; giữ nếp sinh hoạt điều độ, ổn định, tránh trạng thái căng thẳng, xúc động, lo âu; thường xuyên tập thể dục vừa sức ít nhất 45 phút mỗi ngày, 3 lần trong một tuần.

Trong điều trị tăng huyết áp, việc dùng thuốc để khống chế huyết áp dưới mức 140/90mmHg là rất cần thiết. Ở gia đình, người bệnh phải tuân thủ theo hướng dẫn của bác sĩ, khám lại đúng hẹn, không nên tự ý mua thuốc hạ huyết áp để uống hay uống thuốc theo sự mách bảo. Theo cách điều trị tăng huyết áp hiện nay, các thầy thuốc phối hợp nhiều loại thuốc hạ huyết áp với liều thấp có hiệu quả hơn là sử dụng một loại thuốc hạ huyết áp với liều cao. Các nhóm thuốc hạ huyết áp thường được sử dụng hiện nay bao gồm: nhóm thuốc lợi tiểu; nhóm thuóc chẹn kênh canxi; nhóm thuốc ức chế thụ thể bêta; nhóm thuốc ức chế thụ thể alpha; nhóm thuốc ức chế men chuyển; nhóm thuốc ức chế thụ thể angiotensinl.

Bệnh nhân tăng huyết áp nên ăn nhiều rau, củ, quả và vận động động vừa sức.

Khi điều trị tăng huyết áp tại nhà cần tránh 3 sai lầm sau đây: tự mua thuốc hạ huyết áp để uống (đã có nhiều trường hợp phải đưa đến bệnh viện cấp cứu do tự uống thuốc hạ huyết áp); chỉ chữa bệnh khi huyết áp tăng cao và ngừng thuốc khi huyết về bình thường; uống lâu dài với 1 đơn thuốc mà không khám lại để đánh giá diễn tiến của bệnh.

Để bảo đảm hiệu quả trong quá trình điều trị và theo dõi huyết áp tại nhà, bệnh nhân cần tuân thủ các cách sau:

Phải có sổ theo dõi huyết áp: trong sổ ghi số đo huyết áp mỗi ngày 1-3 lần, triệu chứng bất thường trong ngày, thuốc uống trong ngày. Bệnh nhân cần đưa sổ này cho bác sĩ điều trị mỗi lần tái khám.

Cách dùng máy đo huyết áp điện tử tại nhà: khi theo dõi huyết áp tại nhà chỉ nên đo huyết áp 1-3 lần trong ngày, mỗi lần đo huyết áp nên đo 2 lần liên tiếp cách nhau vài phút rồi lấy trung bình 2 lần đo. Cần nhớ phải nằm nghỉ tuyệt đối khoảng 15 phút trước khi đo. Trước khi đo huyết áp 30 phút không được uống rượu, cà phê hay hút thuốc lá. Không nên đo huyết áp sau khi ăn hoặc khi mới ngủ dậy.

Khi có những dấu hiệu bất thường về sức khỏe thì nên chủ động tới bác sĩ chuyên khoa nội tim mạch để khám, không chờ đến hẹn để ngăn ngừa tai biến do tăng huyết áp.

Điều trị tăng huyết áp, đừng tự ý bỏ thuốc!

BS. Đinh Ngọc San


Đối với bệnh nhân tăng huyết áp phải dùng thuốc đều đặn, liên tục trong suốt cuộc đời, vì thế việc tuân thủ chặt chẽ chỉ định điều trị của thầy thuốc là hết sức quan trọng. Việc thấy huyết áp ổn định lại tự ý bỏ thuốc như trường hợp của bác là rất nguy hiểm. Có trường hợp huyết áp ổn định trong thời gian dài, có khi tới 3 năm thậm chí 5 năm (làm cho người bệnh yên tâm, chủ quan không dùng thuốc nữa) nhưng đột nhiên huyết áp lại tăng lên đột ngột đã khiến cho nhiều người bị tai biến mạch máu não, thậm chí tử vong. Ngoài việc tự ý bỏ thuốc thì các nguyên nhân dẫn đến thất bại trong điều trị huyết áp còn là: bệnh nhân tự ý giảm liều dùng thuốc điều trị trong quá trình điều trị; hoặc thuốc đang điều trị không còn phù hợp; hoặc gặp các tương tác về thuốc (đặc biệt đối với người cao tuổi khi điều trị đồng thời nhiều bệnh cùng một lúc)...

Vì thế bệnh nhân không được chủ quan khi thấy huyết áp đã ổn định mà tự ý bỏ thuốc. Khi gặp những thất bại trong điều trị tăng huyết áp, bệnh nhân cần đi khám lại để tìm hiểu nguyên nhân và điều chỉnh thuốc cho phù hợp.


Gần 15% dân số Việt Nam bị tăng huyết áp

Gần 15% dân số Việt Nam bị tăng huyết áp

Khám chữa bệnh tăng huyết áp cho người cao tuổi. Ảnh: PV
Theo kết quả điều mới đây nhất do Viện Tim mạch Quốc gia công bố, có tới 14,8% dân số cả nước bị bệnh tăng huyết áp, chủ yếu ở lứa tuổi trên 50. Tỷ lệ mắc bệnh này ở châu Âu là hơn 10%, châu Mỹ từ 15 - 20%. Nguyên nhân chủ yếu của căn bệnh do thói quen hút thuốc, tiền sử gia đình sớm mắc bệnh tim, béo phì, rối loạn chuyển hóa lipid và đái tháo đường. Theo khuyến cáo của các bác sĩ, để hạn chế mắc căn bệnh trên, người dân không nên hút thuốc lá, tập thể dục đều đặn, giảm uống rượu, giảm cân bằng cách tăng cường ăn rau quả, giảm ăn chất béo và muối.


Nguồn: SKDS

Duy trì cuộc sống tình dục ở bệnh nhân tăng huyết áp

Duy trì cuộc sống tình dục ở bệnh nhân tăng huyết áp
TS. Đặng Quốc Nam

Bệnh tim mạch không chỉ là bệnh gây tử vong chiếm vị trí số 1 mà chúng còn làm thay đổi (giảm) chất lượng cuộc sống của chúng ta. Trước đây các nhà y học cho rằng bệnh tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, đột quỵ và rối loạn cường dương (yếu sinh lý) chỉ gặp ở người già mà hầu như không gặp ở người trẻ. Bây giờ quan niệm này đã thay đổi. Một câu hỏi đặt ra, vì sao các mạch máu ở người tuổi còn trẻ đã không thực hiện tốt chức năng của mình dẫn đến tình trạng yếu sinh lý?

Những nghiên cứu gần đây chứng minh rằng, nguyên nhân phổ biến của đa số các trường hợp bị yếu sinh lý ở đàn ông là những rối loạn về cấu trúc, chức năng của tuyến tiền liệt, là một cơ quan có kích thước nhỏ bé (dưới 20g) bao quanh cổ của bàng quang và ống dẫn nước tiểu, tiết ra chất dịch là thành phần của tinh dịch. Nhưng còn có một nguyên nhân khác cũng không kém phần quan trọng đó là bệnh tăng huyết áp, một bệnh tim mạch thường gặp nhất.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy, sự suy giảm khả năng cường dương (ở nam) hay suy giảm tiết dịch âm đạo - Vaginal lubrication (ở phụ nữ) thậm chí xuất hiện khi huyết áp ở ngưỡng 130/85- 139/89mmHg.

Ở những người đàn ông có tăng huyết áp, do huyết áp tăng mạn tính làm các thành mạch ngày càng trở lên xơ cứng, giảm khả năng đàn hồi trong đó có thành của các thể hang của dương vật. Đây là nguyên nhân chính làm giảm lượng máu dồn về các ống mạch của dương vật và các mạch máu nuôi âm vật làm giảm khả năng cương cứng của nó.

Kéo dài chất lượng cuộc sống là một vấn đề quan trọng, luôn được con người đặc biệt quan tâm. Để giúp các quý ông, quý bà duy trì và củng cố sức mạnh giới tính của mình, xin trình bày một số chiến lược kiểm soát chỉ số huyết áp:

Kiểm soát cân nặng: nên thường xuyên theo dõi cân nặng, duy trì ở mức hợp lý (theo công thức: P = chiều cao (cm) - 100) bằng các chế độ ăn uống hợp lý và tăng cường tập luyện thể dục thể thao.

Duy trì chế độ ăn uống hợp lý: Ăn uống điều độ, vừa đủ no, tránh các chất béo (mỡ động vật, thịt mỡ, bơ, da các động vật, nước xương hầm chưa vớt hết váng mỡ, nước xào); tăng cường ăn cá, đậu, ăn nhiều rau xanh có màu sẫm, trái cây (cam, dâu tây, nho đỏ, mận, mơ, dưa hấu...); ăn nhạt.

Kiểm soát hàm lượng cholesterol máu: Nếu hàm lượng cholesterol máu tăng quá 200mg% (200mg/dl) ở độ tuổi trung niên thì cần phải xin ý kiến bác sĩ để điều chỉnh chế độ ăn. Cholesterol có chứa nhiều trong các thức ăn có nguồn gốc động vật (thịt, trứng và sữa). Cần nhớ rằng trong thịt nạc thăn đã chứa tới 10-15% mỡ; ăn không quá 3 quả trứng/tuần, ăn cách ngày, vì trong trứng có chứa nhiều cholesterol.

Kiểm soát stress: Trong trạng thái căng thẳng thần kinh tâm lý, vỏ tuyến thượng thận tiết ra nhiều adrenalin gây co thắt mạch máu và tăng huyết áp. Hơn nữa, nếu con người bị stress trường diễn sẽ gây rối loạn sự cân bằng của các quá trình thần kinh, thần kinh bị ức chế. Đây cũng là yếu tố bổ sung gây giảm ham muốn tình dục.

Bỏ thuốc lá: Mức độ tổn thương của hệ thống tim mạch tỷ lệ thuận với số lượng thuốc hút trong ngày và thâm niên hút thuốc. Chất nicotin và khí CO trong khói thuốc là nguyên nhân gây các tổn thương hệ thống tim - mạch. Nicotin làm tăng huyết áp, tăng nhịp tim do tác dụng làm co thắt mạch máu của nó; giảm lượng nước tiểu được bài tiết dẫn đến giữ nước trong cơ thể. Nếu ở người hút thuốc lá có bệnh tăng huyết áp hoặc bệnh tiểu đường thì nguy cơ bị nhồi máu cơ tim còn cao hơn.

Chất nicotin và chất CO chứa trong thuốc lá thúc đẩy sự hình thành các cục tắc nghẽn là nguyên nhân chủ yếu gây tai biến mạch máu não.

Bỏ uống bia rượu: Sử dụng rượu bia quá độ và thường xuyên có ảnh hưởng rất lớn lên chức năng sinh sản của cả hai giới nam và nữ. Phụ nữ thường bị rối loạn kinh nguyệt hoặc không có rụng trứng. Ở đàn ông sẽ bị teo tinh hoàn và giảm lượng hormon sinh dục testosteron, giảm hưng phấn tình dục, thậm chí có thể liệt dương.

Tập luyện các bài tập rèn sức bền thường xuyên với liều lượng hợp lý: Các bài tập rèn sức bền (đi bộ sức khỏe 5-7 buổi/tuần, 30 - 60 phút/buổi; chạy sức khỏe 2-3 buổi/tuần, 20 - 40 phút/buổi, tập bơi 3 buổi/tuần, tốc độ và thời gian tập tùy sức) có ảnh hưởng tốt lên toàn bộ cơ thể, đặc biệt là lên chức năng của hệ thống tim mạch, điều hòa huyết áp.

Một số khuyến cáo: Cần phải nhớ rằng, trong thời gian sinh hoạt tình dục, đặc biệt là ở thời điểm đạt “cực khoái” ở cả đàn ông và đàn bà, mạch đập tim có thể tăng từ bình thường 70 - 80 lên đến 180 nhịp/phút, tần số hô hấp có thể tăng từ 20 (bình thường) đến 40 nhịp/phút, huyết áp tối đa có thể tăng từ 120mmHg (bình thường) lên đến 180 - 200mmHg. Vì vậy người bị tăng huyết áp trước khi sinh hoạt tình dục 20-30 phút nên uống thuốc hạ huyết áp, sinh hoạt không vội vã, tốt nhất là nên đến gặp bác sĩ để được cố vấn về chế độ sinh hoạt tình dục.

Tóm lại, để kiểm soát chỉ số huyết áp, thông qua đó cải thiện chất lượng của cuộc sống tình dục thì vấn đề cốt lõi là phải tập luyện thể dục thể thao thường xuyên kết hợp thực hiện chế độ ăn uống hợp lý để kiểm soát cân nặng ở mức bình thường, kiểm soát hàm lượng cholesterol máu, kiểm soát chỉ số huyết áp luôn ở mức dưới 140/90mmHg không phụ thuộc độ tuổi.


Thuốc điều trị tăng huyết áp

Thuốc điều trị tăng huyết áp
PGS. TS. Nguyễn Hữu Đức

Các thuốc điều trị

Khám cho bệnh nhân tăng huyết áp tại Viện Tim mạch. Ảnh: PH

Nhóm lợi tiểu: gồm có hydroclorothiazid, indapamid, furosemid, sprironolacton, amilorid, triamteren,... cơ chế của thuốc là làm giảm sự ứ nước trong cơ thể, tức làm giảm sức cản của mạch ngoại vi đưa đến làm hạ huyết áp. Dùng đơn độc khi bị tăng huyết áp nhẹ, dùng phối hợp với thuốc khác khi bệnh tăng huyếp áp nặng thêm. Cần có sự lựa chọn do có loại làm thải nhiều kali, loại giữ kali, tăng acid uric trong máu, tăng cholesterol máu.

Nhóm thuốc tác động lên thần kinh trung ương (reserpin, methyldopa, clonidin,... ), cơ chế của thuốc là hoạt hóa một số tế bào thần kinh gây hạ huyết áp. Hiện nay ít dùng do tác dụng phụ gây trầm cảm, khi ngừng thuốc đột ngột sẽ làm tăng vọt huyết áp.

Nhóm thuốc chẹn alpha (prazosin, alfuzosin, terazosin, phentolamin,...): cơ chế của thuốc là ức chế sự giải phóng noradrenalin tại đầu dây thần kinh là chất sinh học làm tăng huyết áp, do đó làm hạ huyết áp. Có tác dụng phụ là gây hạ huyết áp khi đứng lên, đặc biệt khi dùng liều đầu tiên.

Nhóm thuốc chẹn bêta (propranolol, pindolol, nadolol, timolol, metoprolol, atenolol,... ). Thuốc ức chế thụ thể beta-giao cảm ở tim, mạch ngoại vi, do đó làm chậm nhịp tim và hạ huyết áp. Thuốc dùng thuốc cho bệnh nhân có kèm đau thắt ngực hoặc nhức nửa đầu. Chống chỉ định đối với người có kèm hen suyễn, suy tim, nhịp tim chậm.

Nhóm thuốc đối kháng calci (nifedipin, nicardipin, amlodipin, felidipin, isradipin, verapamil, diltiazem,... ). Thuốc có tác dụng chặn dòng ion calci không cho đi vào tế bào cơ trơn của các mạch máu gây dãn mạch và từ đó làm hạ huyết áp. Dùng tốt cho bệnh nhân có kèm đau thắt ngực, hiệu quả đối với bệnh nhân cao tuổi, không ảnh hưởng đến chuyển hóa đường, mỡ trong cơ thể.

Nhóm thuốc ức chế men chuyển (captopril, enalapril, benazepril, lisinopril,...): cơ chế của thuốc là ức chế một enzym có tên là men chuyển angiotensin (angiotensin converting enzyme, viết tắt ACE). Chính nhờ men chuyển angiotensic xúc tác mà chất sinh học angiotensin I biến thành angiotensin II và chính chất sau này gây co thắt mạch làm tăng huyết áp. Nếu men chuyển ACE bị thuốc ức chế tức làm cho không hoạt động được sẽ không sinh ra angiotensin II, sẽ có hiện tượng dãn mạch và làm hạ huyết áp. Thuốc hữu hiệu trong 60% trường hợp khi dùng đơn độc (tức không kết hợp với thuốc khác). Là thuốc được chọn khi người bị kèm hen suyễn (chống chỉ định với chẹn beta), đái tháo đường (lợi tiểu, chẹn beta). Tác dụng phụ: làm tăng kali huyết và gây ho khan.

Đặc biệt nhóm thuốc ức chế men chuyển xuất hiện từ đầu những năm 1980 được công nhận là thuốc không thể thiếu trong điều trị tăng huyết áp đã thôi thúc các nhà khoa học tìm ra những thuốc mới khác tác động đến men chuyển ACE. Nếu làm cho men này bất hoạt theo kiểu của thuốc ức chế men chuyển thì thuốc sẽ gây tác dụng phụ như gây ho khan chẳng hạn (chính tác dụng phụ này mà nhiều người bệnh bỏ thuốc không tiếp tục dùng). Nguyên do là vì men chuyển ACE không chỉ xúc tác biến angiotensin I thành angiotensin II gây tăng huyết áp mà còn có vai trò trong sự phân hủy chất sinh học khác có tên bradykinin, nếu ức chế men ACE, bradykini không được phân hủy ở mức cần thiết sẽ thừa gây nhiều tác dụng phụ, trong đó gây ho khan. Thay vì ức chế men ACE, hướng nghiên cứu mới tìm ra các thuốc có tác dụng ngăn không cho angiotensin II gắn vào thụ thể của nó (angiotensin II receptor, type 1) nằm ở mạch máu, tim, thận, do đó sẽ làm hạ huyết áp. Vì thế, hiện nay có nhóm thuốc trị tăng huyết áp có tên là nhóm thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II.

Nhóm thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II: Thuốc đầu tiên được dùng là losartan, sau đó là các thuốc irbesartan, candesartan, valsartan (có người hỏi thuốc diovan chính là tên biệt dược của valsartan nằm trong nhóm thuốc này). Nhóm thuốc mới này có tác dụng hạ huyết áp, đưa huyết áp về trị số bình thường tương đương với các thuốc nhóm đối kháng calci, chẹn beta, ức chế men chuyển. Đặc biệt, tác dụng hạ huyết áp của chúng tốt hơn nếu phối hợp với thuốc lợi tiểu thiazid. Lợi điểm của thuốc nhóm này là do không trực tiếp ức chế men chuyển nên gần như không gây ho khan như nhóm ức chế men chuyển hay không gây phù như thuốc đối kháng calci. Tác dụng phụ có thể gặp là gây chóng mặt, hoặc rất hiếm là gây tiêu chảy. Chống chỉ định của thuốc là không dùng cho phụ nữ có thai hoặc người bị dị ứng với thuốc.

Chú ý khi sử dụng

Các thuốc thuộc các nhóm kể trên hiện nay đều có ở nước ta. Để được điều trị bằng thuốc, người bệnh cần đi khám và được bác sĩ điều trị chỉ định, hướng dẫn sử dụng thuốc. Bởi vì bác sĩ nắm vững tính năng các thuốc, khám bệnh trực tiếp sẽ lựa chọn thuốc thích hợp và hướng dẫn thực hiện các nguyên tắc dùng thuốc. Sự lựa chọn thuốc trị tăng huyết áp sẽ tùy thuộc vào: yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch, có sự tổn thương các cơ quan (như suy thận, suy tim, dày thất trái,...), có kèm bị bệnh đái tháo đường... Đặc biệt, bác sĩ sẽ giúp tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Trước hết, dùng liều thấp ban đầu và tăng liều dần dần với chỉ một loại thuốc.

- Nếu không hiệu quả, mới kết hợp 2 thuốc.

- Nếu thuốc được chọn đầu tiên có hiệu quả kém và có nhiều tác dụng phụ thì đổi nhóm thuốc khác, không cần tăng liều hoặc kết hợp thêm thuốc thứ 2.

Nên dùng loại thuốc cho tác dụng kéo dài, uống một lần trong ngày.

Như đã trình bày ở phần trên, thuốc trị tăng huyết áp có nhiều loại và vấn đề sử dụng thuốc không đơn giản mà khá phức tạp. Chỉ có bác sĩ điều trị mới là người có quyền chỉ định, hướng dẫn dùng thuốc an toàn và hiệu quả, đặc biệt, có ý kiến có nên thay thuốc điều trị bấy lâu nay bằng một thuốc mới hay không.


Biến chứng của tăng huyết áp kịch phát

Biến chứng của tăng huyết áp kịch phát
TS. Tạ Mạnh Cường


Tăng huyết áp kịch phát dẫn đến phình tách động mạch chủ.
Biến chứng thường gặp nhất của tăng huyết áp kịch phát (THAKP) là suy tim trái cấp tính (cả thất trái và nhĩ trái, làm cho bệnh nhân đồng thời xuất hiện phù phổi cấp. THAKP có thể dẫn đến vỡ mạch máu não gây ra những dấu hiệu thần kinh khu trú như liệt nửa người, liệt nửa mặt và/hoặc liệt cơ vùng hầu họng làm cho người bệnh khó nói, khó nuốt. Nặng hơn, bệnh nhân có thể bị hôn mê ngay trong những giờ đầu, dẫn đến tàn phế hoặc tử vong. THAKP có thể dẫn đến tách thành động mạch chủ. Lớp áo trong và giữa của động mạch chủ của những người bị THA thường bị xơ vữa, khi áp lực lên thành động mạch tăng lên đột ngột do huyết áp tăng có thể làm nứt và vỡ lớp áo trong và giữa của thành động mạch chủ. Từ đó máu sẽ chảy vào các khe nứt gây phình và tách động mạch chủ. THAKP là một trong những nguyên nhân dẫn đến suy thận cấp. Mù vĩnh viễn cũng là một hậu quả do THAKP gây ra, đó là tình trạng xuất huyết nặng ở đáy mắt và vỡ động mạch trung tâm võng mạc khi huyết áp tăng quá cao và đột ngột. Tất cả các biến chứng của THAKP đều đặc biệt nguy hiểm vì thế người bệnh cần tuân thủ chặt chẽ chỉ định điều trị của bác sĩ và tái khám định kỳ, nếu thấy có dấu hiệu nào khác thường cần phải đến ngay cơ sở y tế.


Người tăng huyết áp cần lưu ý gì?

Người tăng huyết áp cần lưu ý gì?
BS. Đặng Văn Thoảng


Tai biến mạch não là biến chứng nguy hiểm, gây nhiều tử vong nhất ở người tăng huyết áp. Trường hợp nhẹ biểu hiện bởi cơn thiếu máu não thoáng qua. Bệnh nhân đột ngột ngã, liệt nửa người, cấm khẩu...

Tăng huyết áp (THA) là bệnh khá phổ biến. THA rất nguy hiểm để lại nhiều biến chứng: gây rối loạn nhịp tim, suy tim, nhồi máu cơ tim dẫn đến đột tử hoặc gây đột quỵ dẫn đến xuất huyết não, hôn mê, liệt nửa người; nhẹ hơn thì nước tiểu có đạm, suy thận, vữa xơ động mạch, thị giác mờ, có hiện tượng ruồi bay trước mắt... Biết mình bị THA nhưng việc dùng thuốc và cách phòng ngừa bệnh là một việc rất quan trọng, đòi hỏi người bệnh phải có một quyết tâm cao.

Tăng huyết áp là gì?

Trước hết chúng ta cần biết rằng huyết áp là áp suất của mạch máu, biểu hiện bằng hai chỉ số là huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu. Huyết áp tối đa phản ánh sức co bóp của quả tim và huyết áp tối thiểu là biểu thị của sức cản của thành động mạch.

Gọi THA là "kẻ giết người thầm lặng" cũng đúng vì phần lớn người bệnh không biết mà chỉ khi được phát hiện bị tai biến mạch máu não, suy thận, suy tim thậm chí tử vong... thì mọi sự đã rồi... Người bệnh hay chủ quan vì chỉ dựa vào những dấu hiệu nhức đầu, hay chóng mặt, mệt, chân tay yếu. Vì vậy muốn biết mình có bị THA hay không thì bạn thường xuyên phải đo huyết áp (đến trung tâm y tế, đo tại nhà...). Khi đo, phải đo huyết áp ít nhất 2-3 lần trong tình trạng nghỉ ngơi ổn định, tư thế ngồi, băng đo ngang vị trí tim, lấy giá trị trung bình giữa những lần đo đó.

Điều trị tăng huyết áp

Việc điều trị THA đối với người bệnh THA trong khoảng từ 140 - 150 thì chưa cần phải dùng thuốc hạ áp mà quan trọng là điều chỉnh chế độ ăn, loại bỏ các thói quen làm THA như uống chè, cà phê và luyện tập thể lực vừa sức. Sau 3 tháng thực hiện nghiêm chỉnh chế độ ăn uống và tập luyện mà huyết áp không có xu hướng giảm thì phải dùng thuốc hạ huyết áp.

Nguyên nhân và hậu quả của tăng huyết áp?

Theo nghiên cứu thì có tới 90% trường hợp bị THA nguyên phát và không rõ nguyên nhân.

THA lâu dài ảnh hưởng trên nhiều cơ quan, nhất là tim đưa đến suy tim trái, suy thận mạn, làm hại mạch máu võng mô và gây tai biến mạch máu não.
Tai biến mạch não là biến chứng nguy hiểm, gây nhiều tử vong nhất ở người THA. Trường hợp nhẹ biểu hiện bởi cơn thiếu máu não thoáng qua. Bệnh nhân đột ngột ngã, liệt nửa người, cấm khẩu nhưng có thể hồi phục hoàn toàn trong vài ngày.

Một tai biến khác nặng hơn thiếu máu não thoáng qua là nhũn nã bệnh nhân đột ngột ngã, liệt nửa người, cấm khẩu, còn tỉnh hoặc hôn mê nhẹ, huyết áp bình thường hoặc hơi cao. Điều trị thật tích cực trong 15 ngày đầu, bệnh nhân có hy vọng hồi phục sớm. Nếu chậm trễ tổn thương thành sẹo thì khó có cơ may đi lại bình thường.

Trường hợp nặng nhất, bệnh nhân bị xuất huyết não. Xuất huyết não xảy ra đột ngột sau khi ăn tiệc, đi tiểu đêm nơi gió lùa. Bệnh nhân đột ngột ngã, hôn mê, thở phì phò. Trong trường hợp này tránh cạo gió vì sẽ làm tình trạng chảy máu trầm trọng hơn. Đây là trường hợp tai biến rất nặng, gây tử vong rất cao (khoảng 90%), đa số bệnh nhân tử vong trong vòng 3 ngày đầu.

Phòng tránh tăng huyết áp

Để chủ động ngăn ngừa tai biến do THA, người bệnh nên:

- Có chế độ ăn uống đúng mực: không nên ăn mặn, ăn nhiều mỡ, chọn các thực phẩm ít muối, thực phẩm không chứa cholesterol. Hạn chế uống rượu bia vì rượu bia làm hạn chế tác dụng của thuốc hạ huyết áp, bỏ thuốc lá vì chất nicotin trong thuốc lá có tác dụng xấu tới tim mạch... Những người THA nên chọn những thực phẩm giàu vitamin như rau xanh, trái cây...

Ảnh minh họa

- Có chế độ luyện tập thích hợp: vận động thường xuyên (chơi thể thao nhẹ, đi bộ hằng ngày) là lời khuyên số 1 của các bác sĩ cho những người bị THA. Tránh những hoạt động mạnh, hoạt động gây căng thẳng thần kinh. Hạn chế tăng cân. Đi xe đạp hàng ngày làm giảm huyết áp tốt hơn đi bộ. Đặc biệt chú ý phải khám sức khỏe định kỳ; không nên tự mua thuốc điều trị hoặc tự ý thay đổi liều lượng thuốc.



Nguồn: Sức khỏe & Đời sống

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2009

Coi chừng tăng huyết áp do thuốc

Coi chừng tăng huyết áp do thuốc
PGS. TS. Nguyễn Hữu Đức

Theo Tổ chức Y tế thế giới, số huyết áp (HA) tốt nhất là 120/80mmHg, số 120 là số HA trên và số 80 là số dưới. Bị tăng huyết áp (THA) khi 2 số trên dưới cao hơn 140/90mmHg. Một mục tiêu của điều trị bệnh THA, trong đó có dùng thuốc, là đưa HA về mức bình thường, tốt nhất là mức 120/80mmHg.

Những lưu ý về HA

Ở một số người, việc điều trị được xem là ổn khi số HA được ổn định ở mức cao hơn, như đối với người bệnh tuổi trung niên hoặc có bệnh đái tháo đường, mục tiêu của việc điều trị là đưa HA về dưới 130/85mmHg, hoặc ở người từ 60 tuổi trở lên đưa HA về dưới 140/90mmHg. Điều đặc biệt lưu ý đối với người bị bệnh THA, bên cạnh việc dùng thuốc (có khi phải dùng thuốc suốt đời) để kiểm soát tốt HA, còn phải quan tâm đến những yếu tố trong cuộc sống có thể ảnh hưởng đến HA, làm HA tăng cao hơn trị số mà việc điều trị cần phải đạt được. Như trong chế độ dinh dưỡng, người bị bệnh THA không được ăn mặn, tức hạn chế ăn muối (muối natri clorua) vì natri của muối hiện diện nhiều trong cơ thể sẽ giữ nước làm THA. Nếu người dư cân béo phì phải có chế độ ăn uống giúp giảm cân, bởi vì có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy người thực hiện chương trình giảm cân tích cực sẽ giảm nguy cơ THA rất rõ. Về chế độ sinh hoạt, người bệnh THA nên tăng vận động thể lực thích hợp (vừa giúp hạ HA vừa giảm nguy cơ bị các bệnh tim mạch và nội khoa khác), nếu hút thuốc lá phải ngưng thói quen xấu này, hạn chế tối đa việc uống rượu bia, tập thư giãn để chống stress trong cuộc sống. Điều mà rất ít người quan tâm là việc dùng thuốc (người bệnh THA không chỉ dùng thuốc trị THA, mà còn dùng nhiều thuốc để trị bệnh từ thông thường như cảm cúm đến các bệnh nội khoa khác) có thể gây THA một cách bất thường.

Các thuốc có thể gây THA

Dạng thuốc sủi bọt: khá nhiều thuốc được dùng ở dạng sủi bọt (còn gọi là viên sủi), chỉ uống khi hòa tan thuốc này trong ly nước cho tan hoàn toàn mới uống. 2 loại thuốc thông dụng là thuốc giảm đau hạ nhiệt trị cảm sốt và thuốc bổ cung cấp vitamin, chất khoáng thường được dùng với dạng sủi bọt để giúp cho dễ uống. Nhưng chính dạng thuốc sủi bọt này làm cho người uống bị THA. Do dạng thuốc sủi bọt luôn chứa tá dược rã sinh khí là natri bicarbonat hoặc natri carbonat (khi hòa vào nước sẽ phản ứng với acid citric cũng là tá dược phóng thích khí CO2 gây sủi bọt), cho nên, trong thuốc sủi bọt luôn chứa natri (mỗi viên thuốc sủi bọt có chứa 274 - 460mg natri), có thể gây THA đối với người bị sẵn bệnh lý này và đang kiêng muối. Người cao tuổi đang điều trị bệnh THA tuyệt đối không dùng thuốc dạng sủi bọt.

Thuốc trị cảm - sổ mũi chứa phenylpropanolamin, pseudoephedrin: các thuốc trị cảm - sổ mũi ngoài dược chất paracetamol thường chứa thêm thuốc có tác dụng làm co mạch, chống sung huyết ở niêm mạc mũi như phenylpropanolamin hoặc pseudoephedrin (vì vậy thuốc làm cho hết sổ mũi, nghẹt mũi rất tốt). Nhưng chính do chứa chất co mạch vừa kể mà dùng thuốc để trị cảm sổ mũi không thôi, có thể bị THA rất đáng ngại. Người đã sẵn bị bệnh THA cần xem kỹ thành phần của thuốc trị cảm (chỉ có paracetamol là không đáng ngại) để dùng thuốc cho an toàn.

Thuốc giảm cân: có một số thuốc giảm cân có thể làm THA đối với người đang điều trị bệnh này, đó là sibutramin và ephedra. Sibutramin là thuốc Tây y được chính thức công nhận điều trị dư cân béo phì. Còn ephedra (thực chất ephedra là vị thuốc Đông y tên Ma hoàng) có trong chế phẩm thực phẩm chức năng, dùng để giảm cân thông dụng ở Hoa Kỳ (có thể chế phẩm loại này được nhập không chính thức vào nước ta). Cũng cần lưu ý một số thuốc trị cảm có thể chứa ephedrin là dược chất có trong ephedra (ephedrin dùng liều cao để giảm cân trong khi dùng liều thấp giúp trị nghẹt mũi, sổ mũi giống như pseudoephedrin).

Thuốc trị viêm xương khớp: đó là các thuốc được gọi tên chung là các thuốc chống viêm không steroid (viết tắt là NSAID). Không chỉ có thuốc NSAID cổ điển như diclofenac, ibuprofen… mà cả thuốc mới như celecoxib có thể gây THA. Người cao tuổi thường dễ mắc bệnh viêm xương khớp (còn gọi là thoái hóa khớp) nếu có thêm bệnh THA mà lại dùng bừa bãi thuốc NSAID thì dễ bị tai biến nguy hiểm.

Thuốc hormone: có 2 loại hormone (còn gọi là nội tiết tố do tuyến nội tiết tiết ra) được dùng làm thuốc và dùng lâu dài có thể gây THA là estrogen và glucocorticoid (thường được gọi corticoid). Estrogen là hormone thường có trong thuốc ngừa thai phối hợp (vừa chứa estrogen và progesteron là 2 hormone sinh dục nữ) và thuốc trị rối loạn do mãn kinh ở phụ nữ (gọi là liệu pháp hormone thay thế). Estrogen không chỉ có nguy cơ THA mà còn gây huyết khối làm thuyên tắc tĩnh mạch. Còn corticoid là tên chung của các thuốc như: dexamethason, prednisolon, prednison… là thuốc chống viêm, chống dị ứng (trị viêm xương khớp, hen suyễn…) có thể gây THA do giữ nước và natri lại trong cơ thể.

Thuốc Đông y: ở các nước phương Tây, thuốc Đông y được xem là chế phẩm “hỗ trợ dinh dưỡng” hay “thực phẩm chức năng” nhưng lưu ý có một số thuốc Đông y có thể gây THA. Như cam thảo có thể gây THA do tác dụng giữ nước và natri lại trong cơ thể. Đặc biệt là nhân sâm là vị thuốc quý dùng lâu đời trong Đông y được nhiều người chuộng dùng. Đối với người bình thường, thuốc được xem là an toàn nhưng đối với người bị THA hoặc bị các bệnh tim mạch khác, nhân sâm do có tác dụng kích thích, đặc biệt nhân sâm thường phối hợp với các vị thuốc kích thích dùng lâu ngày có thể gây THA. Ở ta cần lưu ý có tình trạng lưu hành thuốc Đông y giả mạo, thường kết hợp với thuốc Tây y là corticoid nhằm đạt các tác dụng: trị đau nhức, ăn được, mập ra… nhưng dùng lâu ngày sẽ bị các tác dụng phụ nguy hiểm, trong đó có gây THA.


Làm gì khi bị tăng huyết áp?

Làm gì khi bị tăng huyết áp?



BS. Nguyễn Lê Phương
25/02/2008

Tăng huyết áp là một bệnh phổ biến ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển. Bệnh tiến triển lâu ngày sẽ làm tổn thương các mạch máu và gây ảnh hưởng xấu tới nhiều cơ quan như tim, não, thận, thậm chí gây nhiều biến chứng nặng nề như chảy máu não, suy tim… ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân và là gánh nặng cho gia đình, xã hội.

Thế nào là tăng huyết áp?

Huyết áp được gọi là tăng khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140mmHg và huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90mmHg. Người ta không chẩn đoán tăng huyết áp qua một lần đo. Khi người ta đo huyết áp của bạn và thấy từ 140/90mmHg trở lên, thì có thể bác sĩ sẽ yêu cầu bạn trở lại đo huyết áp thêm 2 lần nữa trong thời gian 4 tuần mới có thể khẳng định là bạn có tăng huyết áp hay không.


tăng huyết áp là bệnh thường gặp ở người cao tuổi, trong các bệnh viêm cầu thận cấp và mạn tính; sỏi thận, viêm thận kẽ, hẹp động mạch thận. Các bệnh nội tiết như u tủy thượng thận, Cushing, cường tuyến giáp, cường tuyến yên... Các bệnh tim mạch như hẹp, vữa xơ động mạch, hở van động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ... tăng huyết áp cũng có nguyên nhân do dùng thuốc, dùng cam thảo, ngộ độc thai nghén.


Ai có nguy cơ tăng huyết áp?


Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng trong gia đình có cha, mẹ bị tăng huyết áp thì con cái có nguy cơ tăng huyết áp hơn những người không có cha mẹ mắc bệnh này. Ở người bình thường, không có thừa cân - béo phì và những rối loạn chuyển hóa mắc phải thì tuổi hay bị tăng huyết áp nhất là nam trên 55 tuổi, phụ nữ tuổi mãn kinh. Các chất kích thích dễ làm huyết áp tăng nếu người ta sử dụng thường xuyên là rượu, đặc biệt là nghiện rượu, mặc dù còn nhiều tranh cãi nhưng sự thật là sử dụng thường xuyên cà phê có thể làm nhịp tim tăng và tăng huyết áp. Thuốc lá là một thủ phạm gây tổn thương tim và mạch máu, do thuốc lá làm co thắt các mạch máu dẫn đến làm hẹp lòng mạch là nguyên nhân gây tăng huyết áp. Thói quen ăn mặn (làm giữ muối và nước gây tăng thể tích máu, gây áp lực động mạch lớn dẫn đến tăng huyết áp), thói quen lười vận động cũng là những nguyên nhân gây ra tăng huyết áp.


Hầu hết tăng huyết áp đều gặp ở vòng luẩn quẩn của những người béo phì, đái tháo đường, vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu. Bên cạnh đó thì một số thuốc chống viêm có steroid cũng có thể dẫn đến tăng huyết áp.


Chu kỳ sinh học của huyết áp có thể gây đột quỵ


Hầu hết những người bị bệnh tăng huyết áp không có triệu chứng gì. Một số người với huyết áp cao nhiều có thể có các triệu chứng như đau đầu, nhìn mờ... Một số triệu chứng của các biến chứng: đau ngực, đột quỵ, nhồi máu cơ tim, rung nhĩ, suy thận, nhìn mờ... Các biến chứng của tăng huyết áp thường đi kèm với các bệnh khác như vữa xơ động mạch, đau thắt ngực ổn định, nhồi máu cơ tim.


Điều đáng chú ý là mối liên hệ giữa chu kỳ sinh học của huyết áp và nguy cơ đột quỵ. Huyết áp thường tăng cao vào buổi sáng sớm, khoảng từ 5 - 7 giờ. Đây là thời gian người bệnh thường thức giấc, do vậy những tai biến rất dễ xảy ra do: Người bệnh thay đổi tư thế đột ngột trong khi huyết áp đang ở mức cao nhất, chóng mặt, nhìn mờ xuất hiện có thể làm người bệnh ngã. Các động mạch khi bị tăng huyết áp thường có áp lực lớn nên rất dễ bị tổn thương nếu chỉ cần một va chạm nhẹ, thậm chí chỉ cần thay đổi tư thế đột ngột. Nhiều trường hợp các cụ già dậy sớm tập thể dục và bị tai biến mạch máu não.


Phòng và điều trị tăng huyết áp


Nếu huyết áp tăng ít thì cũng không cần điều trị nhiều, nhưng cần theo dõi thường xuyên. Nếu huyết áp tăng nhiều, có thể phải nhập viện để điều trị. Thay đổi lối sống là một biện pháp điều trị đầu tiên được các bác sĩ khuyến cáo đối với bệnh nhân tăng huyết áp. Một số thuốc điều trị tăng huyết áp thường dùng là thuốc chẹn beta giao cảm, thuốc chẹn anpha giao cảm, 2 dạng này ở dạng phối hợp, các thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn kênh canxi, thuốc ức chế men chuyển...


Phòng bệnh tăng huyết áp: Luôn luôn giữ chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh, đáng lưu ý nhất là không nên ăn quá mặn. tăng huyết áp và xơ vữa động mạch thường song hành thúc đẩy nhau làm bệnh nặng thêm nên chế độ ăn cần điều chỉnh để lượng cholesterol không cao quá, nên thay thế mỡ động vật bằng dầu ăn thực vật. Duy trì chế độ ăn đầy đủ lượng kali khoảng 90mmol/ngày, đặc biệt ở những bệnh nhân cần dùng thuốc lợi tiểu để điều trị tăng huyết áp. Bảo đảm đầy đủ calcium và magnesium. Không nên uống rượu bia, cà phê và đặc biệt là không hút thuốc lá. Tránh tình trạng thừa cân, béo phì. Rèn luyện thể lực, thể dục thể thao. Bảo đảm ngủ đủ, tránh stress. Nếu trong gia đình có bố mẹ hoặc anh chị em ruột bị bệnh tăng huyết áp thì phải tuân thủ các chế độ trên chặt chẽ hơn, cần phải khám sức khỏe định kỳ hằng năm và giải quyết các nguy cơ nếu có, đặc biệt khống chế các yếu tố dễ làm huyết áp tăng cao đột ngột. Đối với những người đã mắc bệnh tăng huyết áp cần điều trị liên tục, có sự theo dõi sát sao của thầy thuốc.

Sức Khoẻ & Đời Sống

Tăng huyết áp là một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch

Những yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch
ThS. Nguyễn Mạnh Hà

Trong suốt cuộc đời, trái tim phải hoạt động không hề ngơi nghỉ. Mỗi ngày tim co bóp trên 100.000 lần, bơm gần 7.500 lít máu đi nuôi cơ thể. Thế nhưng nhiều bệnh tật và thói quen sinh hoạt của con người đã gây nhiều nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Bệnh tim mạch là bệnh của trái tim và của mạch máu gồm nhiều loại khác nhau như: tăng huyết áp, loạn nhịp tim, bệnh động mạch vành, hẹp hở van tim, tai biến mạch máu não, suy tim, phình động tĩnh mạch, tắc nghẽn, vữa xơ động mạch... Vậy những yếu tố nào là nguy cơ gây bệnh?

Những yếu tố nguy cơ

Trong nhiều yếu tố có thể gây bệnh, có những yếu tố mà y học phải bó tay, song có nhiều yếu tố có thể cải thiện, điều trị và phòng tránh được.

3 yếu tố nguy cơ buộc phải bó tay mặc cho số phận là:

Di truyền: Bệnh tim mạch di truyền từ cha mẹ cho con. Nhiều nghiên cứu phổ hệ cho thấy nếu bố mẹ hay anh chị em bị bệnh tim thì con cái, anh em ruột có nhiều nguy cơ mắc bệnh.

Giới tính: Trong độ tuổi từ nhỏ đến trung niên, nam bị bệnh tim mạch nhiều hơn nữ; nhưng đến tuổi mãn kinh thì tỷ lệ bệnh tim mạch xấp xỉ bằng nhau ở cả nam và nữ. Lý giải hiện tượng này người ta cho rằng nội tiết tố nữ đã bảo vệ họ trong độ tuổi sinh đẻ. Đến thời kỳ mãn kinh, do các nội tiết tố suy giảm nên tỷ lệ nữ mắc bệnh tương đương nam.

Tuổi: ở người cao tuổi, có lẽ do tim làm việc đã lâu năm nên bị yếu đi, vách tim dày hơn, động mạch phần nào đã bị vữa xơ, do đó khả năng co bóp của tim trở nên khó khăn. Như vậy càng cao tuổi nguy cơ bệnh tim mạch càng tăng. Một thống kê ở Hoa Kỳ cho thấy: cứ 5 người chết do bệnh tim mạch thì có tới 4 người trên 65 tuổi.

Những yếu tố nguy cơ có thể phòng tránh được đó là:

Cholesterol máu cao: Trong cơ thể, cholesterol có ở mọi tế bào và có nhiều chức năng quan trọng. Một nghiên cứu cho thấy nếu cholesterol máu càng cao thì tỷ lệ vữa xơ động mạch càng cao. Cholesterol sẽ đóng thành từng mảng ở thành mạch máu gây vữa xơ động mạch, hậu quả là nhồi máu cơ tim. Nhưng có người cholesterol cao mà không bị thiếu máu cục bộ cơ tim, do đó chỉ nên coi cholesterol tăng là yếu tố nguy cơ.

Tăng huyết áp: ở người bị bệnh tăng huyết áp, thành mạch máu thường bị vữa xơ nên rất kém co giãn. Do đó để tống máu vào hệ thống huyết quản, tim phải co bóp mạnh hơn. Như vậy tim phải gắng sức liên tục, hệ quả là cơ tim sẽ dày lên và cứng hơn, sự cố gắng liên tục sẽ làm tim suy yếu. Do áp lực lên thành động mạch tăng cùng với sự vữa xơ, làm mạch máu dễ bị vỡ ở những nơi xung yếu, tăng nguy cơ tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim.

Bệnh đái tháo đường: Tiểu đường và tăng huyết áp là sự tác động lẫn nhau vô cùng nguy hiểm. Tăng huyết áp càng làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch. Thận giúp kiểm soát huyết áp, nhưng thận cũng bị tổn thương nếu huyết áp quá cao. Theo một nghiên cứu thì 65% người bị đái tháo đường có thể tử vong vì bệnh tim mạch.

Béo phì: người béo phì dễ bị tăng cholestetrol máu, tăng huyết áp và là nguy cơ của bệnh tim mạch.

Hút thuốc lá gây các bệnh: mạch vành, vữa xơ động mạch, đau tim, gây các bệnh về tim cao hơn người không hút từ 2 - 4 lần; chất nicotin trong thuốc lá làm tăng nhịp tim, tăng huyết áp, giảm ôxi, tăng huyết cục, gây tổn thương thành mạch...

Ít hoặc không vận động: Khi vận động cơ thể tăng tiêu hao năng lượng, mọi cơ quan tăng cường hoạt động giúp thải trừ các chất độc hại ra ngoài, làm giảm cholesterol, hạ huyết áp. Vận động làm tăng sức mạnh của cơ bắp, làm tim và mạch máu đàn hồi tốt hơn, dẻo dai hơn. Vì vậy người ít hoặc không vận động có nhiều nguy cơ bị bệnh tim mạch hơn so với người năng vận động, rèn luyện cơ thể.

Bị stress có thể làm tăng nhịp tim và tăng huyết áp. Người bệnh tim mà liên tục chịu ảnh hưởng của stress thì tần số cơn đau thắt ngực tăng lên; stress làm cho thần kinh tiết ra nhiều adrenalin làm tăng huyết áp dẫn tới tổn thương thành mạch; làm tăng kết tập tiểu cầu tạo cục máu đông, dễ bị nhồi máu cơ tim.

Rượu làm tăng huyết áp, tăng triglicerid gây nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ

Làm gì để giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch?

Muốn tránh nguy cơ bệnh tim mạch, cách tốt nhất là loại bỏ các yếu tố nguy cơ đã nêu trên, bao gồm:

- Bỏ hút thuốc lá ngay tức thì bằng nghị lực chứ đừng suy tính giảm hút dần dần.

- Giữ cân bằng cholesterol, cố gắng giữ cholestetrol dưới 200mg/100ml, trong đó cholesterol xấu (LDL) dưới 130mg/100ml và cholesterol có lợi (HDL) trên 40mg/100ml. Cần giảm ăn chất béo có nguồn gốc động vật, ăn nhiều rau và trái cây các loại.

- Giảm cân nặng chống béo phì bằng tiết chế khẩu phần ăn hằng ngày. Tăng cường hoạt động thể lực như tập thể dục đều đặn, đi bộ, chơi một môn thể thao thích hợp...

- Phòng và chữa tăng huyết áp. Nên thường xuyên kiểm tra huyết áp, giữ huyết áp khoảng 120/70mmHg.

- Cân bằng đường huyết ở mức trung bình. Nên giữ đường huyết ở mức 80 - 120mg/100ml trước bữa ăn và 100 -140mg/100ml buổi tối trước khi đi ngủ.

- Tránh những cảm xúc bất lợi như vui, buồn, giận dữ, thất vọng, ghen tuông, những stress, những căng thẳng hằng ngày.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2009

Lợi ích tuyệt đối của việc dự phòng bệnh tăng huyết áp

Lợi ích tuyệt đối của việc dự phòng bệnh tăng huyết áp
Bs. Bùi Nguyên Kiểm

Nếu không phòng ngừa từ đầu, bệnh tăng huyết áp sẽ chẳng bao giờ có thể thanh toán được và các bác sỹ chỉ đơn giản là phát hiện và điều trị những tăng huyết áp sẵn có. Phòng bệnh từ đầu cho phép phá vỡ và ngăn chặn chuỗi tiếp tục của vòng xoắn tốn kém trong việc điều trị bệnh tăng huyết áp và các biến chứng của nó.

Tăng huyết áp - kẻ thù của sức khoẻ và tuổi thọ
Tăng huyết áp được định nghĩa là sự tăng kéo dài mức huyết áp ³ 140/90 mmHg. Tăng huyết áp là bệnh thường gặp nhất tại các phòng khám ở tất cả nước phát triển và đang gia tăng mạnh mẽ ở nước ta. Tăng huyết áp là nguyên nhân chính gây bệnh mạch vành (thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim), tai biến mạch máu não, là nguyên nhân gây suy tim, suy thận mạn tính, tắc mạch máu ở chân…và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới. Ước tính có khoảng hơn 70% bệnh nhân tăng huyết áp tử vong là do hậu quả của "kẻ giết người thầm lặng" này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tuyên truyền, giáo dục và nhiều tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị bệnh nhưng ngay ở các nước đã phát triển chỉ có khoảng hơn 50% số người bị tăng huyết áp được chẩn đoán, trong số này chỉ có 1/2 người được điều trị và trong số bệnh nhân được điều trị chỉ có 1/2 người được chữa trị đúng đắn. Điều trị đầy đủ, đúng đắn bệnh tăng huyết áp đặt ra nhiều vấn đề về tài chính, tác dụng phụ của thuốc khi dùng dài ngày, bệnh nhân phải thay đổi lối sống và ngay cả khi bệnh tạm ổn định thì cũng không thể tránh được huyết áp tăng dần theo quá trình tích tuổi.
Quan niệm mới về chiến lược điều trị bệnh tăng huyết áp một cách hiệu quả và thực tiễn trên diện rộng là phòng bệnh ngay từ đầu. Có 6 biện pháp sẵn có đã được xác nhận :
1. Tránh béo phì.
Người ta thấy, vào lúc 18 tuổi, nếu tăng 5-10 kg trọng lượng cơ thể so với cân nặng chuẩn, sau này, sẽ làm tăng gấp đôi nguy cơ xuất hiện bệnh tăng huyết áp.
Giảm cân dù ít cũng có lợi cho sức khoẻ người béo phì. Các nghiên cứu cho thấy, nếu giảm 2,7 kg cân nặng sẽ làm giảm 1,3 mmHg đối với cả huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và nhất là giảm đến 50% nguy cơ tiến triển nặng hơn của bệnh tăng huyết áp với thời gian điều trị trong 5 năm sau.
Một sự giảm cân nhẹ khoảng 5 - 10% cân nặng thôi, cũng đã góp phần cải thiện tốt đối với các rối loạn sức khoẻ đồng hành như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch và cuối cùng là kéo dài tuổi thọ. Khi giảm được 10 kg cân nặng tức là đã làm giảm 20-25% tỷ lệ tử vong chung, giảm 30-40% tử vong liên quan đến đái tháo đường, giảm 40-50% tử vong do ung thư liên quan đến béo phì. Ở người béo phì nặng, nếu giảm được 20-30 kg cân nặng thì đã làm giảm 89% tình trạng bệnh tăng huyết áp.
2. Tăng hoạt động thể lực
Hoạt động thể lực đều đặn làm cho các động mạch mềm mại, đàn hồi, dẻo dai hơn; các tĩnh mạch đưa máu về tim nhanh chóng và đều đặn hơn, nhất là quả tim được cung cấp ô xy đầy đủ hơn, khoẻ hơn, đẩy máu nhiều hơn. Gia tăng hoạt động thể lực có thể làm giảm từ 6-7 mmHg.
Vận động cơ thể đều đặn hàng ngày như đi bộ nhanh, chạy chậm ít nhất 30 phút mỗi ngày, hầu hết các ngày trong tuần hoặc chơi các môn thể thao. Đối với người cao tuổi hoặc người có bệnh khác cần lưu ý là không được tập quá sức. Tập luyện vừa sức là sau khi vận động, mạch ở cổ tay tăng thêm 20 lần/phút so với trước lúc tập. Khi đang vận động, người ở tuổi 40, nhịp 120 lần/phút là vừa đủ; tuổi 50 nhịp mạch là 110; tuổi 60 là 100 và tuổi 70 là 90 lần/phút. Ngược lại, nếu ngừng tập thì các kết quả tốt sẽ mất đi ngay.
3. Giảm một nửa lượng muối ăn trong chế độ ăn uống
Người ta thấy có một mối tương quan thuận giữa lượng muối ăn vào và bệnh tăng huyết áp . Vùng nào có thói quen hoặc tập quán ăn nhiều muối thì tỷ lệ tăng huyết áp cao hơn và nếu ăn hạn chế muối tương đối sẽ phòng được bệnh. Ở Nhật, sau khi vận động nhân dân ăn ít muối, tỷ lệ chảy máu não do tăng huyết áp đã giảm 40%. Ở nước ta, mỗi ngày, trong 3 bữa ăn thông thường ở gia đình, mỗi người ăn khoảng 8-10 gam muối.
Mức độ ăn kiêng được khuyến cáo rộng rãi là không quá 2,4 gam natri mỗi ngày (tương đương với 6 gam muối ăn).
Chế độ ăn giảm muối cho những người bị tăng huyết áp, sẽ làm giảm huyết áp từ 2-8 mmHg và tránh được các biến chứng của bệnh gấp đôi so với người không ăn giảm muối.
4. Thay đổi về lượng rượu hàng ngày
Uống nhiều rượu dễ bị tăng huyết áp. Khoảng 8% những người có tăng huyết áp trong số đàn ông Mỹ uống quá nhiều rượu. Rượu còn có thể gây kháng thuốc khi điều bệnh và làm cho người bị tăng huyết áp dễ bị tai biến mạch máu não. Mức độ uống hàng ngày cho nam giới không quá 2 ly rượu nhỏ, tương đương 30 ml ethanol, tức khoảng 720 ml bia hay 300 ml rượu hay 90 ml whisky. Đối với nữ giới và người nhẹ cân, lượng rượu nên uống chỉ bằng một nửa cho nam giới.
Người ta thấy, một lượng nhỏ rượu uống thường xuyên cho thấy có tác dụng làm giảm các nguyên nhân gây tử vong và do tim mạch nói chung. Bởi vậy, cũng không nên cấm hẳn uống rượu.
Cũng như mọi thứ khác, điều độ mới là tốt.
5. Bỏ hút thuốc lá
Tác dụng lên mạch máu của hút thuốc lá có thể tránh được nếu huyết áp được đo sau khi hút điếu thuốc cuối cùng ít nhất 30 phút. Những người hút ³ 20 điếu thuốc mỗi ngày sẽ có tăng huyết áp thường xuyên.
Các nhà y học còn khuyên không ngồi gần thậm chí không ngồi cùng phòng với người hút thuốc lá để tránh tình trạng hút thuốc lá thụ động.
6. Theo dõi huyết áp và điều trị sớm bằng thuốc
Nhiều nghiên cứu cho thấy ở những người có huyết áp cao hơn 120/80 mmHg, tức là chưa đủ mức được chẩn đoán là tăng huyết áp, đã xuất hiện đánh kể các bệnh lý về tim mạch. Các biện pháp áp dụng trong cộng đồng làm giảm huyết áp đã làm giảm một lượng lớn các nguy cơ bệnh lý tim mạch. Người ta khuyên nên đo huyết áp thường xuyên để phát hiện sớm mức huyết áp chưa tối ưu nhằm áp dụng sớm các biện pháp phòng ngừa. Vào tuổi 40, khoảng 3 tháng nên đo huyết áp một lần.
Nếu trong gia đình, anh chị em ruột bị tăng huyết áp thì những người chưa bị bệnh cần tuân thủ các lời khuyên trên một cách chặt chẽ hơn và lưu ý theo dõi mức huyết áp thường xuyên.
Từ trước khi có các phác đồ điều trị tăng huyết áp hiệu quả, các nhà y học đã kết luận rằng, dù chỉ điều trị tăng huyết áp nhẹ ở người trẻ tuổi vẫn có lợi hơn khi tính chi phí và kết quả những năm tuổi thọ được gia tăng.
Quan niệm về chiến lược điều trị tăng huyết áp đã có sự thay đổi, giúp ích đáng kể cho việc dự phòng khởi phát bệnh. Hy vọng rằng, một số lời khuyên trên sẽ biến thành các biện pháp thiết thực phòng ngừa bệnh tăng huyết áp, vốn đang còn là mối đe doạ lớn đối với cuộc sống lâu dài và sôi động ngày nay.

Tăng huyết áp thể đặc biệt

Tăng huyết áp thể đặc biệt
ThS. Nguyễn Vân Anh


Cùng với sự phát triển của xã hội, chế độ lao động sinh hoạt, ăn uống không điều độ làm cho tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh tăng huyết áp (THA) ngày càng tăng lên và có xu hướng trẻ hóa. Để điều trị, ngoài việc người bệnh cần có chế độ ăn uống, vận động, sinh hoạt, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý; thì việc dùng thuốc là một vấn đề hết sức quan trọng. Hiện nay có rất nhiều nhóm thuốc điều trị THA, mỗi nhóm có cơ chế tác dụng khác nhau, việc sử dụng như thế nào còn phụ thuộc vào tình trạng của từng bệnh nhân. Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến điều trị THA trong những trường hợp đặc biệt.


Điều trị THA ở trẻ em (dưới 12 tuổi)

Phải kiểm tra huyết áp thường xuyên.
THA ở trẻ em thường ít gặp, thường rất khó tiên lượng về lâu dài, nếu có thì cố gắng tìm nguyên nhân để điều trị nguyên nhân; nếu không tìm thấy nguyên nhân (vô căn) thì chủ yếu là điều trị triệu chứng, cải thiện chế độ sinh hoạt và sử dụng thuốc điều trị nội khoa như người lớn theo chỉ dẫn của bác sĩ.

THA ở người cao tuổi

Ngay từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh là người già nên và cần điều trị THA, ngay cả với người đã trên 85 tuổi. Ở lứa tuổi này do xơ cứng động mạch lớn nên thường xảy ra tình trạng THA tâm thu đơn độc, do đó sẽ tiến hành điều trị huyết áp tâm thu từ 160mmHg trở lên mà không cần căn cứ có THA tâm trương hay không.

Trong quá trình điều trị cần lưu ý một số đặc điểm cơ bản sau:

Chuyển hóa chậm, đào thải chậm do giảm sút tuần hoàn tại gan và thận.

Béo phì ở lứa tuổi trung niên và cao tuổi.

Có thể có nhiều bệnh lý mạn tính khác đi kèm, hoặc là nguyên nhân, hoặc là hậu quả của THA như đái tháo đường, viêm phế quản tắc nghẽn mạn tính, rối loạn lipid máu, suy vành...

Thể tích huyết tương giảm, cung lượng tim giảm, renin huyết tương cũng giảm nên huyết áp thường dao động nhiều.

Nguyên tắc điều trị:

Chế độ sinh hoạt: ăn giảm mỡ và phủ tạng động vật, không dùng các chất kích thích như trà, cà phê hay rượu, bia, tập thể dục dưỡng sinh đều đặn và chế độ ăn bớt mặn kèm lợi tiểu có thể thích hợp.

Dùng thuốc: bắt đầu từ liều thấp, tăng liều từ từ, thận trọng; Các loại thuốc lợi tiểu, chẹn calci, ức chế men chuyển đều có tác dụng; chẹn bêta chỉ dùng khi không có nguy cơ đái tháo đường, suy tim, viêm phế quản tắc nghẽn mạn tính. Cần chú ý điều trị các bệnh phối hợp.

THA ở phụ nữ có thai

Mục đích của điều trị là phòng ngừa các biến chứng cho người mẹ và giảm tử vong ở thai nhi.

Chế độ sinh hoạt: nghỉ ngơi; ăn hạn chế muối; Theo dõi huyết áp và khám thai đều đặn, đặc biệt trong 2 tháng cuối.

Chú ý: Trong trường hợp phòng ngừa sản giật, tốt nhất nên nằm theo dõi tại bệnh viện và được điều trị THA. Nếu huyết áp mẹ vẫn tăng cao, có huyết tán, suy thận, giảm tiểu cầu, suy giảm chức năng gan, mờ mắt... thì phải xét khả năng cho đẻ sớm hoặc lấy thai ra.

THA ở người béo phì

Trong mọi trường hợp nhất thiết phải có chỉ định của bác sĩ, không được tự ý sử dụng thuốc.
Trong những năm gần đây, do chế độ sinh hoạt và ăn uống không điều độ nên tỷ lệ người béo phì tăng lên đáng kể, trong điều trị THA ở các đối tượng này cần lưu ý:

Thể tích máu cao, máu phân phối về khu vực tim, phổi nhiều hơn, tình trạng tăng lưu lượng máu về tim kết hợp với tăng sức cản ngoại vi làm cho thất trái vừa dày, vừa giãn.

Có thể có kết hợp rối loạn lipid máu trong đó đáng kể nhất là tăng cholesterol, triglycerit máu làm cho hoạt động cường giao cảm mạnh lên, trương lực và sức cản mạch máu cũng tăng lên.

Điều trị: giảm cân nặng, giảm lượng muối ăn, tăng cường luyện tập, chế độ ăn và sinh hoạt hợp lý. Dùng thuốc như ở các đối tượng THA khác.

THA ở người đái tháo đường

Ở những người mắc bệnh đái tháo đường, nguy cơ THA đi kèm tăng cao hơn ở người bình thường; cần điều trị ngay khi huyết áp tăng.

Chế độ ăn hợp lý, làm giảm cân kết hợp với thể dục, bỏ rượu bia và thuốc lá.

THA kèm suy mạch vành

Điều trị THA trong trường hợp này có tác dụng làm giảm sức căng vách tim, giảm tiền gánh, hậu gánh và nhờ đó có lợi cho tuần hoàn vành.

Chú ý: không nên làm giảm huyết áp quá nhiều vì có nguy cơ giảm tuần hoàn động mạch vành. Không dùng các loại thuốc hạ huyết áp nhưng có thể gây tăng nhịp tim vì sẽ gây tăng nhu cầu ôxy ở cơ tim.

Tóm lại, điều trị THA (mà phần lớn là vô căn) cần phối hợp chế độ sinh hoạt hợp lý phù hợp với thể trạng, tổn thương đã có hay chưa có ở các cơ quan đích, chú ý các yếu tố nguy cơ đi kèm. Sử dụng thuốc khi huyết áp đã cao nhiều hoặc kèm theo các tổn thương ở tạng đích. Điều trị các thể THA khác nhau với sự lựa chọn các thuốc khác nhau trong số các thuốc hiện có. Trong mọi trường hợp nhất thiết phải có ý kiến của bác sĩ, không được tự ý sử dụng thuốc.


Sức khỏe&đời sống

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2009

CHỦ ĐỀ NGÀY TĂNG HUYẾT ÁP THẾ GIỚI 2009 VÀ GÓC NHÌN VIỆT NAM

CHỦ ĐỀ NGÀY TĂNG HUYẾT ÁP THẾ GIỚI 2009 VÀ GÓC NHÌN VIỆT NAM

ThS Đào Duy An


Poster Ngày Tăng huyết áp Thế giới 17/5/2009

Tăng huyết áp là bệnh lý tim mạch phổ biến nhất hiện nay trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam, gây tử vong, biến chứng và di chứng nhiều nhất: hiện có 1,5 tỉ người mắc và 7,1 triệu người trên thế giới chết vì tăng huyết áp mỗi năm. Ngày Tăng huyết áp Thế giới năm nay (17/5/2009), lần thứ 5 trên thế giới và lần thứ 3 tại Việt Nam, có chủ để “Tăng huyết áp và muối: hai kẻ giết người thầm lặng”; dịp này, các tổ chức và cá nhân hoạt động thiện nguyện nhằm cải thiện nhận thức, phát hiện, điều trị và kiểm soát tăng huyết áp tại cộng đồng.

Tăng huyết áp phần lớn không có triệu chứng, xảy ra trước khi có biến chứng (chết đột ngột, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, xơ vữa động mạch…) 10-20 năm. Muối ăn giúp cân bằng nội môi, là thành phần thiết yếu của cơ thể. Tuy nhiên, ăn 6 g muối/ngày trở lên lâu dài sẽ gây tăng huyết áp và một số bệnh khác.

Hiện nay, bên cạnh nỗ lực giúp cộng đồng nhận biết con số huyết áp của chính mình nhằm phát hiện và kiểm soát tốt tăng huyết áp, Liên đoàn Tăng huyết áp Thế giới, Hội Thận học Quốc tế và Tổ chức Y tế Thế giới kêu gọi các chính phủ, các nhà sản xuất thực phẩm, các tổ chức thiện nguyện và cộng đồng áp dụng các biện pháp giảm muối ăn sao cho mỗi người ăn vào dưới 6 g/ngày.

Cha ông chúng ta sớm biết tác dụng cũng như tác hại của muối ăn thể hiện qua tục ngữ như “cá không ăn muối cá ươn”, “muối mặn gừng cay”, “ăn mặn khát nước”. Chúng ta bằng vốn sống kế thừa từ tổ tiên và bằng nền tảng y học hiện đại ngay từ bây giờ áp dụng các biện pháp giảm muối để cải thiện tình trạng tăng huyết áp đang có xu hướng ngày càng tăng nhất là trong bối cảnh chế độ ăn kiểu Tây ngày càng phổ biến và hội nhập kinh tế toàn cầu.

Giảm muối từ từ (sau vài ba tháng), để quen với khẩu vị lạt bằng các cách cụ thể như ăn mì tôm thì không dùng hết gói bột nêm đến lúc không cần bột nêm, ăn bánh mì thì giảm xì dầu rồi không cần xì dầu, giảm đến không thêm mắm muối vào cơm canh, ăn rau thì giảm nước chấm, giảm ăn đồ chế sẵn (vì nhiều muối).

Tác dụng của giảm muối lên huyết áp rất lớn: với chế độ ăn ít muối, huyết áp tâm thu giảm 7,1 mm Hg ở người bình thường và giảm 11,5 mm Hg ở người tăng huyết áp; các nghiên cứu đã chứng minh huuyết áp tâm thu giảm 10 – 12 mm Hg, huyết áp tâm trương giảm 5 – 6 mm Hg trong vài năm sẽ làm giảm 38% đột quỵ và 16% bệnh mạch vành. Nếu giảm được một nửa lượng muối ăn hàng ngày thì thế giới sẽ cứu được 2,5 triệu người chết do đột quỵ, bệnh mạch vành và bệnh thận mạn mỗi năm.

Nỗ lực giảm muối vô cùng quan trọng và lợi chi (cost-effectiveness) đối với Việt Nam hiện nay vì người Việt ăn 18 – 22 g muối/ngày và tùy từng vùng mà thói quen ăn mặn lại khác nhau như Hà Nam, Yên Bái là 13 – 15 g/người/ngày, trong khi ở các vùng biển hay các nơi còn nghèo, mức độ này lại tăng lên gấp 2-3 lần.

Nỗ lực giảm muối cũng như nỗ lực phát hiện và kiểm soát tăng huyết áp phụ thuộc bạn, tôi, cộng đồng và chính phủ.

20 câu hỏi thường gặp về cao huyết áp


BS ĐÀO XUÂN DŨNG

Ý nghĩa của sự khác biệt nhiều giữa trị số huyết áp tối đa (huyết áp tâm thu) và tối thiểu (huyết áp tâm trương) là gì? Sự khác biệt về trị số giữa huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương gọi là áp lực mạch.

Ví dụ nếu huyết áp khi đang nghỉ ngơi có trị số là 120/80 milimét thủy ngân (mm Hg) thì áp lực mạch là 40 tức sự chênh lệch giữa 120 và 80. Một số bệnh có thể làm tăng áp lực mạch, ví dụ như bệnh ở van động mạch chủ, thiếu máu nặng và cường tuyến giáp.

Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất gây tăng áp lực mạch là tình trạng xơ cứng và viêm động mạch chủ, động mạch lớn nhất của cơ thể. Bệnh có thể do cao huyết áp hay có mảng bám mỡ trên thành các động mạch (gây xơ vữa mạc máu). Sự chênh lệch giữa trị số huyết áp tâm thu và trị số huyết áp tâm trương càng lớn thì thành mạch có thể đã xơ cứng và tổn thương càng nhiều. Có bằng chứng cho thấy rằng áp lực mạch có thể là một chỉ số báo hiệu tốt về tình trạng tim, nhất là ở người cao tuổi.

Nhưng huyết áp tâm thu là chỉ số báo hiệu tốt nhất đối với những người trên 50. Với những người trên 60, áp lực mạch trên 60 mm Hg là bất thường. Điều trị cao huyết áp thường có thể làm giảm được áp lực mạch.

Đang khoẻ mạnh thì không cần quan tâm đến huyết áp?

Cao huyết áp có đặc tính là không gây ra dấu hiệu hay triệu chứng gì, vì vậy người ta mới gọi đó là kẻ giết người thầm lặng. Nếu chỉ căn cứ vào cảm giác khoẻ mạnh để coi là mình có huyết áp bình thường là không đủ. Cách duy nhất để biết có cao huyết áp không là kiểm tra huyết áp. Nhiều nước công nghiệp tỷ lệ cao huyết áp chiếm đến gần một phần ba dân số, ở Mỹ ít nhất có 65 triệu người bị cao huyết áp.

Có phải chỉ những người cao tuổi mới lo bị cao huyết áp?

Mặc dầu người có tuổi có nguy cơ bị cao huyết áp lớn hơn nhưng họ không phải là đối tượng duy nhất; cả trẻ em cũng có thể bị cao huyết áp. Đừng cho rằng còn trẻ thì không cần quan tâm kiểm tra định kỳ huyết áp hay cần phải thay đổi lối sống như bỏ hút thuốc lá hay duy trì cân nặng lành mạnh. Bất cứ ai cũng có thể bị cao huyết áp.

Nếu không ăn mặn thì không lo bị cao huyết áp?

Ăn ít muối là một phần quan trọng để kiểm soát huyết áp. Mối người cần ăn dưới 2.4 g muối mỗi ngày, tương đương với một thìa cà phê. Lượng muối như vậy là cho cả ngày, không phải là lượng ăn thêm trong bữa ăn. Đồ hộp dùng cho bữa ăn và các thực phẩm chế biến khác thường có nhiều muối. Cho nên nếu đọc nhãn thực phẩm để biết lượng muối, bạn sẽ ngạc nhiên là mình đã ăn quá quy định.

Cao huyết áp chỉ xảy ra ở những luôn phải sống căng thẳng và có nhiều stress?

Ai cũng có thể bị cao huyết áp dù tính cách như thế nào. Nếu bạn có cuộc sống luôn phải tranh chấp, căng thẳng và lo lắng thì không nhất thiết là bạn sẽ bị cao huyết áp. Ngược lại, dù bạn luôn sống vô tư trầm tĩnh, ung dung tự tại thì cũng không phải sẽ đưọc miễn dịch với bệnh.

Kiểm soát stress vẫn là một yếu tố quan trọng vì những hoàn cảnh có nhiều stress có thể làm tăng huyết áp tạm thời; theo thời gian những stress liên tục xảy ra hay đi kèm với tăng huyết áp sẽ gây tổn thương các động mạch, cho tim, não, thận và mắt.

Cao huyết áp không được điều trị sẽ gây ra những hậu quả gì?

Thành động mạch chịu áp lực quá tải do cao huyết áp gây ra có thể làm tổn thương nghiêm trọng nhiều cơ quan quan trọng của cơ thể.

Nói chung, huyết áp càng cao hay càng để lâu không kiểm soát thì tổn thương càng lớn. Nếu không biết huyết áp của mình thì cần được thầy thuốc kiểm tra. Có ý thức về huyết áp và biết cần phải làm gì nếu có huyết áp cao sẽ giúp phòng ngừa được các biến chứng nghiêm trọng do huyết áp cao có thể gây ra như đột quỵ, suy tim, nhồi máu cơ tim, suy thận, mù loà.

Nguyên nhân chính gây cao huyết áp?

Những yếu tố của lối sống như hút thuốc lá, stress… có thể góp phần gây ra cao huyết áp nhưng với hầu hết mọi người thì cao huyết áp không rõ nguyên nhân. Một số yếu tố góp phần gây tăng huyết áp lại không thể kiểm soát được như tuổi tác, chủng tộc, tiền sử gia đình nhưng có thể kiểm soát được nhiều yếu tố nguy cơ khác như béo phì, sử dụng thuốc lá và rượu, ăn mặn hay ít vận động.

Nếu là người trưởng thành và không có lịch sử cao huyết áp, định kỳ bao lâu cần được kiểm tra huyết áp?

Nếu huyết áp bình thường, dưới 120/80 mmHg thì cần được kiểm tra huyết áp ít nhất 2 năm 1 lần hoặc mỗi lần gập thầy thuốc theo hẹn. Nếu có tiền sử cao huyết áp hay nếu có bệnh nào đó như tiểu đường, bệnh tim, bệnh thận thì cần được kiểm tra thường xuyên hơn.

Nếu huyết áp luôn tốt khi đo ở nhà nhưng lại luôn cao khi đo tại phòng mạch hay bệnh viện thì có đáng lo không?

Có thể do hội chứng áo choàng trắng tức tăng huyết áp tạm thời mỗi khi gặp thầy thuốc với tâm trạng lo lắng. Thầy thuốc sẽ giúp xác định đó là cao huyết áp chỉ xảy ra khi đi khám bệnh hay có bệnh cao huyết áp thực sự. Tuy huyết áp vẫn bình thường khi đo ở nhà nhưng vẫn nên kiểm tra thường xuyên hơn và vẫn nên theo chế độ kiểm soát huyết áp như thay đổi chế độ ăn, bỏ thuốc lá, hạn chế rượu, thực hành vận động và giảm stress.

Nhóm dân số nào có nguy cơ cao nhất bị cao huyết áp?

Người da đen hay những người Mỹ gốc Phi là nhóm dân số có nguy cơ cao nhất bị cao huyết áp; dễ bị từ khi còn trẻ và huyết áp trung bình của họ cũng cao hơn các nhóm chủng tộc khác. Cao huyết áp cũng thường nghiêm trọng và tiến triển nhanh hơn ở người da đen.

Nếu cao huyết áp thường gập trong các thành viên gia đình thì bạn cũng sẽ bị cao huyết áp?

Cao huyết áp là bệnh có thể tránh ngay dù có lưu hành trong gia đình. Thường có thể phòng ngừa cao huyết áp bằng những biện pháp sau: duy trì cân nặng hợp lý; luôn có lối sống năng động; ăn nhiều hoa quả và rau; giảm ăn mặn; hạn chế rượu hay bỏ hoàn toàn. Nếu trong gia đình lưu hành bệnh cao huyết áp thì ngay từ bây giờ cần có những bước phòng ngừa để không bị cao huyết áp sau này; hỏi ý kiến thầy thuốc về những việc cần làm để giảm nguy cơ.

Nếu huyết áp dưới 149/90 mmHg thì không lo cao huyết áp?

Hướng dẫn xử trí cao huyết áp đã thay đổi từ mùa xuân 2003 và đã đề ra trị số mới về huyết áp bình thường. Huyết áp dưới 140/90 đã có thời gian được chấp nhận nhưng ngày nay nếu huyết áp trên 120/80 nhưng dưới 140/90 thì vẫn coi là tiền cao huyết áp (prehypertension) nghĩa là cao huyết áp vẫn có thể trở thành một vấn đề nếu không điều trị để giảm. Cần có huyết áp bình thường với trị số dưới 120/80.

Thuốc là tất cả những gì cần thiết để chữa cao huyết áp?

Không nên cho rằng chỉ có thuốc mới giảm được cao huyết áp. Thay đổi lối sống cũng rất quan trọng, ví dụ như chế độ ăn nhiều rau quả, đi bộ hàng ngày và không hút thuốc lá. Thay đổi lối sống còn có thể làm cho thuốc hiệu quả hơn và đôi khi có thể làm giảm huyết áp đủ để giảm liều lượng thuốc hàng ngày.

Dùng thuốc thay thế muối có phải là cách an toàn để giảm ăn mặn?

Có nhiều sản phẩm thay thế muối nhưng vẫn có sodium chloride. Nếu dùng nhiều sản phẩm thay thế muối cho dễ ăn thì rút cục lại ăn nhiều muối hơn cần thiết. Ngoài ra còn vấn đề tiềm ẩn nữa: potassium chloride là chất phụ gia thường dùng trong muối ăn; nếu quá nhiều potassium có thể gây tổn thương nếu có vấn đề về thận.

Cho nên cần có ý kiến của thầy thuốc trước khi dùng sản phẩm thay thế muối. Thay vì dùng sản phẩm thay thế muối, thử dùng các loại gia vị cây cỏ như rau húng, rau thơm, ớt khô…để ăn ngon miệng mà không làm tăng huyết áp.

Loại thức ăn nào chứa ít muối nhất?

Bạn sẽ ngạc nhiên về lượng muối ẩn chứa trong một số thực phẩm thường dùng. Vì vậy cần đọc nhãn dán trên một số thực phẩm. Không dùng hơn 2300mg muối mỗi ngày, tương đương một thìa cà phê. Nếu bị cao huyết áp thì còn cần giảm nữa lượng muối hàng ngày. Khi nhãn ghi salt-free hay sodium-free có nghĩa là vẫn có một lượng dưới 5mg sodium trong một suất ăn.

Nếu muốn thử giảm huyết áp, loại chế độ ăn nào tốt nhất?

Loại chế độ ăn có nhiều rau quả cũng như những sản phẩm sữa ít mỡ có thể giúp giảm huyết áp nhưng phải thực hành chế độ ăn này trong 2 tuần mới có tác dụng. Người ta nghiên cứu một chế độ ăn gọi là DASH gồm thức ăn ít mỡ và cholesterol; sản phẩm làm từ hạt toàn phần, cá, gia cầm và giảm thịt có màu đỏ, kẹo và đồ uống ngọt.

Để giảm huyết áp, cần vận động thân thể ít nhất một giờ mỗi ngày?

Ít nhất 30 phút tập thể dục vừa phải hàng ngày hay 5 ngày mỗi tuần có thể giúp phòng hoặc kiểm soát cao huyết áp. Nếu quá bận thì chia làm nhiều lần mỗi lần 10 phút. Hoặc để ôtô xa cơ quan; xuống xe buýt trước vài bến đỗ để đi bộ; nửa giờ lau rửa xe, lao động ở vườn nhà…cũng có ích.

Nếu bị quá cân thì cần giảm mấy kí nữa để giảm được huyết áp? Khoảng 4,5kg thường là đủ để tạo ra sự thay đổi về huyết áp. Cần phải đạt được chỉ số khối lượng cơ thể lành mạnh. Cho nên thầy thuốc sẽ cho biết nên giảm mấy kí và làm cách nào tốt nhất để đạt được sự giảm cân.

Thuốc uống tránh thai có làm tăng huyết áp không?

Thuốc uống tránh thai thường gây tăng huyết áp một chút nhưng không đủ để làm tăng huyết áp trên mức bình thường. Nguy cơ phát triển huyết áp cao sẽ cao hơn nếu phụ nữ dùng thuốc tránh thai uống do đó thầy thuốc thường yêu cầu phụ nữ kiểm tra huyết áp 6 tháng một lần. Phụ nữ cũng sẽ có nguy cơ cơ lớn hơn bị cao huyết áp nếu 35 tuổi trở lên và hút thuốc lá khi dùng viên thuốc tránh thai.

Làm thế nào để bảo đảm có có trị số đúng khi đo huyết áp?

Vì huyết áp chịu ảnh hưởng của thói quen sống và các hoạt động cho nên cần có những điều kiện sau đây để bảo đảm huyết áp có trị số đúng. Ăn, uống, đồ uống có chất caffein, hút thuốc lá và bàng quang đang căng đều có thể làm thay đổi trị số huyết áp. Báo cho thầy thuốc biết những hoạt động khác có thể ảnh hưởng đến huyết áp của bạn.


Chọn máy đo huyết áp dùng tại nhà

(VnMedia) Công nghệ kỹ thuật, y học ngày càng tiến bộ, do vậy ngày càng có nhiều người trang bị cho mình máy đo huyết áp điện tử dùng trong gia đình. Loại máy này rất tiện lợi và dễ thao tác, song trên thị trường có rất nhiều loại máy đo huyết áp điện tử. Cần lựa chọn cho mình những máy có độ tin cậy và chính xác cao.



Dạo dọc phố Phương Mai, Ngọc Khánh, … bạn sẽ thấy có rất nhiều loại máy đo huyết áp điện tử, song chỉ thấy có máy đo huyết áp OMRON là có tem khuyến cáo của Hội tim mạch học Việt Nam, do máy có độ chính xác đạt tiêu chuẩn AAMI (Hiệp hội cải tiến thiết bị đo y tế) và được BHS (Hiệp hội tăng huyết áp Anh) và EHS (Hiệp hội tăng huyết áp Châu Âu) chứng nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế. Được tổ chức y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo sử dụng để theo dõi huyết áp, hiện tại Viện tim mạch học quốc gia cũng đang sử dụng máy đo huyết áp điện tử của Omron. Hiện nay, ở một số nước phát triển việc sử dụng máy đo huyết áp điện tử ngày càng tăng, thậm chí ở bệnh viện, phòng khám các bác sĩ cũng sử dụng máy đo huyết áp điện tử thay cho loại máy đo huyết áp thủy ngân trước đây, do nguy cơ nguy hiểm do thủy ngân gây ra.



Tuy nhiên, ở Việt nam máy đo huyết áp điện tử mới chỉ được dùng phổ biến trong gia đình và một số phòng khám. Với những loại máy đo huyết áp điện tử của Omron, để có kết quả đo chính xác bạn cần phải tuân thủ đúng theo hướng dẫn sử dụng máy của nhà sản xuất, đặc biệt với loại máy đo huyết áp cổ tay, phải đúng tư thế đo, tức là vị trí đặt máy phải ngang với tim. Chính vì lý do này, Omron đã nghiên cứu và cho ra loại máy đo huyết áp tự động cổ tay IW2 có gắn cảm biến định vị, máy sẽ tự dò tìm vị trí đo thích hợp (ngang tim) để cho kết quả đo chính xác. Loại máy này sử dụng công nghệ Intellisense nên cho kết quả đo nhanh, máy chạy êm, không có tiếng ồn và vòng bít được làm bằng chất liệu chống vi khuẩn, rất lý tưởng cho việc sử dụng máy thường xuyên tại nhà cũng như ở nơi công cộng.



Với loại máy đo huyết áp điện tử bắp tay như SEM-1, SEM-2, IA1, IA2 thì tư thế đo không bị ảnh hưởng nhiều lắm vì vị trí quấn vòng bít gần tim hơn loại cổ tay, hơn nữa mạch ở bắp tay cũng dễ nhận ra hơn. Tuy nhiên, để có kết quả đo chính xác nhất vòng bít vẫn phải ngang tim như hình đo huyết áp ở trên và trong quá trình đo không nên nói chuyện hay cử động. Loại máy đo ở bắp tay này phù hợp và chính xác hơn đối với những bệnh nhân bị bệnh huyết áp và tim mạch theo khuyến cáo của Giáo sư Phạm Gia Khải, chủ tịch Hội tim mạch học Việt Nam.


Để biết thêm thông tin về các loại máy đo huyết áp Omron, bạn có thể liên hệ với:

Nhà phân phối chính thức Omron
- Phía Bắc: Công ty TNHH Tiến Thành
21 Đặng Tiến Đông, Hà nội. ĐT: 04 - 851 5265

- Phía Nam: Công ty TNHH y tế Hồng Tâm
38 Hồ Biểu Chánh, Q. Phú Nhuận, Tp. HCM
ĐT: 08 - 844 6362

Người cao huyết áp có phải kiêng quan hệ tình dục?

Người cao huyết áp có phải kiêng quan hệ tình dục?

BS Phan Hữu Phước

Trong sinh hoạt tình dục, người bệnh cao huyết áp nói riêng và bị bệnh tim mạch nói chung cần lưu ý một số vấn đề sau:

- Nếu huyết áp và tim mạch không ổn định, tình trạng này có thể sẽ tiến triển xấu hơn khi giao hợp. Lúc giao hợp, nhịp tim tăng cao, có khi lên đến 180 lần/phút, có thể dẫn đến tình trạng ngoại tâm thu, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, rung tim..., dẫn đến tử vong đột ngột.

- Huyết áp tăng cao lúc giao hợp còn có thể gây đứt mạch máu não nếu không được điều trị ổn định.

- Tình trạng mệt mỏi do vấn đề tim mạch làm cho đối tượng không đạt đến cực điểm trong quá trình giao hợp.

- Việc dùng thuốc điều trị cao huyết áp có thể ảnh hưởng đến chất lượng sinh hoạt tình dục ở cả hai phái. (Có khoảng 1/3 trường hợp dùng thuốc điều trị cao huyết áp bị ảnh hưởng đến sinh hoạt tình dục).Ở nam có thể bị giảm ham muốn về tình dục; ở nữ, quá trình bôi trơn âm đạo bị giảm, xuất hiện cảm giác đau, khó chịu lúc giao hợp, hoặc làm thay đổi cảm giác lúc đạt cực khoái.

- Các nhóm thuốc điều trị cao huyết áp như ức chế men chuyển, ức chế beta, chẹn kênh canxi, lợi tiểu đều có thể ảnh hưởng đến sinh hoạt tình dục.

Người bệnh cao huyết áp có trị số huyết áp thường xuyên quá cao cần phải lưu ý điều trị cho bệnh ổn định rồi mới quan hệ, để tránh những tai biến đáng tiếc. Trong trường hợp huyết áp và tim mạch ổn định, bạn có thể sinh hoạt tình dục bình thường, nhưng nên hỏi ý kiến bác sĩ điều trị về vấn đề tế nhị này.

Sức Khỏe & Đời Sống

Phòng tai biến mạch máu não ở người cao huyết áp

Phòng tai biến mạch máu não ở người cao huyết áp

TS Nguyễn Chương

Tai biến mạch máu não xuất hiện do rối loạn tuần hoàn não cấp tính. Đây là loại bệnh nặng, tỷ lệ tử vong cao và có nhiều di chứng. Nguy cơ gặp tai biến này rất lớn ở những người bị cao huyết áp.

Ở người có tăng huyết áp mạn tính, thành mạch máu thoái hóa dày lên, sẽ ảnh hưởng tới tuần hoàn não. Khi những động mạch đưa máu lên não bị tắc nghẽn, não sẽ bị thiếu chất dinh dưỡng và ôxy, dẫn đến đột quỵ và tử vong.

Các chấn động tâm lý có thể gây rối loạn tuần hoàn não. Khi làm việc căng thẳng về trí lực, sinh hoạt gia đình có khó khăn đột biến, khi về hưu mà không có chuẩn bị trước về tinh thần... người cao tuổi rất dễ bị chấn động tâm lý và nếu có kèm bệnh cao huyết áp, tai biến mạch máu não sẽ rất dễ xảy ra. Để phát hiện sớm tai biến mạch máu não do tăng huyết áp, bác sĩ có thể soi đáy mắt để đánh giá tình trạng mạch máu ở võng mạc.

Cách phòng tránh chủ yếu đối với tai biến trên là điều trị, khống chế tốt bệnh cao huyết áp và các vấn đề tim mạch khác. Nên định kỳ đi khám, nhất là ở tuổi chuyển tiếp "49 chưa qua, 53 đã tới". Nên lưu ý và đến bác sĩ ngay khi có những biểu hiện sau:

- Nhức đầu.

- Chóng mặt (cảm giác quay). Có hiện tượng quên, rối loạn cảm xúc (buồn giận thất thường...), rối loạn tâm lý.

- Hiện tượng ruồi bay (nhìn thấy những điểm đen).

Ngoài việc điều trị đều, liên tục, giữ huyết áp ở trị số ổn định, hợp lý, bác sĩ sẽ tư vấn cho người bệnh về dinh dưỡng (ăn uống hợp lý, không cho mỡ máu tăng, không uống rượu, bia). Bệnh nhân có thể tập luyện xoa bóp khí công, chống stress, tham gia các câu lạc bộ dưỡng sinh, thể dục ngoài trời...

Những khi thời tiết thay đổi đột ngột, lúc chuyển mùa, người cao tuổi, nhất là người có bệnh tăng huyết áp, không nên đi tiểu ngoài trời lạnh vào ban đêm.

Sức Khỏe & Đời Sống

Điều trị tăng huyết áp ở người cao tuổi

ThS Thùy Hương

Cách hữu hiệu nhất để người già đối phó với bệnh tăng huyết áp là thay đổi lối sống: giảm ăn muối, kiêng rượu, thuốc lá và chất kích thích, vận động vừa phải... Ngoài ra, bệnh nhân có thể sử dụng một số bài thuốc cổ truyền để hạ áp.

Tăng huyết áp là một bệnh mạn tính, biểu hiện chính là tăng áp lực động mạch, có thể gây ra biến chứng ở nhiều cơ quan như tim mạch, não, thận và mắt. Có hai loại tăng huyết áp. Loại nguyên phát chiếm khoảng 90%, gặp hầu hết ở lứa tuổi trung niên và tuổi già do những thay đổi cơ chế gây co hoặc giãn mạch. Tăng huyết áp thứ phát thường gặp ở người trẻ và trẻ em do các bệnh ở thận, nội tiết... Ở người cao tuổi, hẹp tắc động mạch thận là nguyên nhân chủ yếu gây tăng huyết áp thứ phát.

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh bao gồm:

- Tuổi tác: Ở lứa tuổi 60 trở lên, tỷ lệ tăng huyết áp là 1/3.

- Yếu tố xã hội: Tỷ lệ mắc bệnh ở thành thị cao hơn nông thôn do nhịp sống căng thẳng, khẩn trương.

- Béo phì: Trong lượng cơ thể vượt quá mức cho phép (chỉ số BMI ở nam hơn 25, nữ hơn 30).

- Nghiện rượu và thuốc lá.

- Ăn mặn: Lượng muối quá 5 g/ngày.

- Rối loạn lipid máu và tiểu đường.

Để điều trị, người bệnh cần có chế độ ăn giảm cân nếu thừa cân, ăn ít muối, bỏ thuốc lá, hạn chế rượu và các chất kích thích; năng vận động thể lực như đi bộ, bơi, tập dưỡng sinh, thái cực quyền... Nên sử dụng nước uống có tác dụng hạ huyết áp, an thần, lợi tiểu như hoa hòe, chè sen vông, chè thanh nhiệt, nước ngô luộc... Chế độ sinh hoạt, làm việc và nghỉ ngơi phải hợp lý, đảm bảo giấc ngủ đầy đủ. Hạn chế dùng thuốc ngủ khi không cần thiết.

Ngoài ra, người bị tăng huyết áp cũng có thể điều trị theo một số bài thuốc y học cổ truyền sau:

- Thiên ma, câu đằng, đỗ trọng, tang ký sinh, bạch thược, chi tử, ngưu tất mỗi thứ 12 g, hoàng cầm 8 g, thạch quyết minh, mẫu lệ mỗi thứ 20 g. Ngày một thang, sắc uống làm 3 lần. Dùng cho người tăng huyết áp thể can dương thịnh (đau đầu, chóng mặt, mặt đỏ, bứt rứt, ngủ ít, hay mê, miệng đắng, tiểu vàng, đại tiện táo).

- Thục địa, hạ khô thảo mỗi thứ 16 g; hoài sơn, sơn thù, bạch linh, đan bì, trạch tả, kỷ tử, bạch mao căn, cúc hoa mỗi thứ 12 g, thạch quyết minh 20 g, câu đằng 10 g. Ngày một thang, sắc uống làm 3 lần. Dùng cho người tăng huyết áp thể can thận âm hư (hoa mắt, chóng mặt, ù tai, đau đầu, tức ngực, tay chân tê dại, ngủ kém).

- Bán hạ chế, thiên ma, trần bì, thạch xương bồ mỗi thứ 8 g; bạch linh, bạch truật, câu đằng mỗi thứ 12 g, cam thảo 4 g. Ngày một thang, sắc uống làm 3 lần. Dùng cho người tăng huyết áp kèm béo phì hoặc cholesterol máu cao.

Sức Khỏe & Đời Sống

NGƯỜI CAO TUỔI TỰ ĐO HUYẾT ÁP TẠI NHÀ

NGƯỜI CAO TUỔI TỰ ĐO HUYẾT ÁP TẠI NHÀ

Tác giả : BS. BÙI NGUYÊN KIỂM (BV. Xanh Pôn - Hà Nội)

Các biến chứng về tim, mạch não, thận, mạch máu... đều có liên quan chặt chẽ với mức huyết áp. Mỗi khi huyết áp tăng 10-20mmHg sẽ làm tăng gấp đôi nguy cơ nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não ở người cao tuổi. Ngược lại, khi làm giảm được mức huyết áp, sẽ giảm 35-40% tỷ lệ tai biến mạch máu não; giảm 20-25% nhồi máu cơ tim và giảm hơn 50% tỷ lệ bị suy tim.

Để hạn chế các bệnh có liên quan đến tăng huyết áp, gần đây Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến khích việc tự đo huyết áp tại nhà, nhất là đối với người cao tuổi, nhằm giúp bệnh nhân có thông tin về mức huyết áp hàng ngày, sự đáp ứng với thuốc hạ huyết áp và quan tâm hơn đối với vấn đề điều trị.

Để khai thác tối ưu các điểm mạnh của phương pháp này, cần tuân thủ một số hướng dẫn sau:

1. Cần chỉnh đúng huyết áp kế: Đo huyết áp bằng huyết áp kế thủy ngân vẫn được coi là phương pháp tốt nhất để đánh giá số đo của huyết áp. Sau một thời gian sử dụng, đa số huyết áp kế đồng hồ, huyết áp điện tử đều có sai lệch, vì vậy nên được chỉnh lại sau mỗi 3 tháng sử dụng.

2. Trước khi đo huyết áp, người được đo cần ngồi nghỉ hoàn toàn trên ghế ít nhất 5 phút, chân đặt lên sàn nhà, tay đặt trên bàn ngang mức tim. Đây là tư thế của mức huyết áp thường diễn ra hàng ngày.

3. Đo huyết áp tư thế đúng, được đo định kỳ mỗi 3-6 tháng, đặc biệt ở những người có nguy cơ hạ huyết áp tư thế (suy tĩnh mạch, đái tháo đường...).

4. Băng quấn tay phải quấn được 80% cánh tay người được đo. Với người có thể trạng to lớn, người quá béo, nếu băng quấn tay đo huyết áp nhỏ có thể làm tăng số đo, sai tới 10-15mmHg và ngược lại.

5. Đo ít nhất 2 lần và cách nhau ít nhất 2 phút cho mỗi lần đo. Trị số huyết áp chính xác là giá trị trung bình cộng của 2 lần đo nói trên. Nếu 2 lần đo chênh lệch nhau > 5mmHg, cần thực hiện đo lần thứ 3 và lấy trung bình cộng của cả 3 lần đo.

6. Huyết áp tâm thu được tính từ 2 tiếng đập liên tiếp đầu tiên, để tránh nhầm với “lỗ thủng huyết áp” của người cao tuổi có xơ vữa động mạch hay người bị hẹp van động mạch chủ, chỉ có một tiếng đập đầu tiên.

7. Huyết áp tâm trương được tính khi tiếng đập cuối cùng mất đi.

8. Cần đo huyết áp của tay đối bên và đối chiếu mức huyết áp của hai tay.

9. Người đo huyết áp nên nói hoặc ghi lại cho người được đo trị số huyết áp cũng như mức huyết áp mục tiêu của họ.

Theo quy định, ở bất cứ lứa tuổi nào, người có mức huyết áp bằng hoặc lớn hơn 140/90 mmHg thì được xem là bị tăng huyết áp. Còn những người tự đo huyết áp tại nhà có mức huyết áp lớn hơn hoặc bằng 135/85 mmHg đã được xem như bị tăng huyết áp.