Thứ Tư, 10 tháng 6, 2009

Bạn biết gì về bệnh tăng huyết áp

Bạn biết gì về bệnh tăng huyết áp

Huyết áp là gì?

Huyết áp là áp lực máu ở trong lòng động mạch. Huyết áp được tạo ra do lực co bóp của tim và sức cản của động mạch. Khi tim co bóp, máu sẽ được bơm vào các mạch máu và ép vào thành động mạch làm mạch máu căng lên. Số đo huyết áp tại thời điểm tim co bóp được gọi là Huyết áp tâm thu hay Huyết áp tối đa. Sau khi co bóp, tim sẽ giãn ra và thành động mạch sẽ trở về trạng thái ban đầu, số đo huyết áp tại thời điểm này được gọi là Huyết áp tâm trương hay Huyết áp tối thiểu. Khi đo huyết áp bạn sẽ được ghi kết quả là x/y mmHg, trong đó x là số đo huyết áp tâm thu, y là số đo huyết áp tâm trương.

Theo Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO), huyết áp bình thường khi đo ở cánh tay là 120/80 mmHg. Đây là trị số huyết áp trung bình bình thường đối với người lớn. Huyết áp có đặc điểm là thay đổi theo thời gian, trạng thái tâm sinh lý và nhiều yếu tố khác.

Thế nào là tăng huyết áp?

Tăng huyết áp được định nghĩa là khi huyết áp của bạn (huyết áp tâm thu và/hoặc huyết áp tâm trương) cao hơn mức bình thường. Theo WHO, tăng huyết áp xảy ra khi số đo huyết áp tâm thu từ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương từ 90mmHg trở lên..

Tại sao bạn bị tăng huyết áp?

Khoảng trên 90% các trường hợp tăng huyết áp không rõ nguyên nhân, các thường hợp này được gọi là Bệnh tăng huyết áp (Tăng huyết áp tiên phát).

Khoảng dưới 10% các trường hợp tăng huyết áp có nguyên nhân và được gọi là Tăng huyết áp triệu chứng (tăng huyết áp thứ phát). Các nguyên nhân của Tăng huyết áp triệu chứng bao gồm:

- Các bệnh của nhu mô thận: Suy thận cấp, suy thận mãn, Sau ghép thận, chạy thận nhân tạo chu kỳ.

- Các bệnh về mạch máu: Hẹp động mạch thận, Hẹp eo động mạch chủ, Bệnh Takayashu (hẹp động mạch nhiều nơi).

- Các bệnh Nội tiết: Hội chứng Cushing, Cường Aldosterone (Hội chứng Com), U tủy thượng thận, Cường giáp và Cường tuyến cận giáp.

- Do sử dụng các thuốc: Thuốc co mạch, Thuốc giữ muối, giữ nước (ví dụ prednisone, aldosterone).

Huyết áp thấp có nguy hiểm không?

Một người từ lâu có trị số huyết áplà 90/50 mmHg hoặc 100/60 mmHg mà vẫn làm việc, sinh hoạt bình thường thì không có gì nguy hiểm. Ngược lại, một người từ lâu có trị số huyết áp là 130/80 mmHg, nay đột nhiên huyết áp hạ xuống còn 90/50 mmHg thì nên đến cơ sở y tế gần nhất để được các thầy thuốc khám và cho ý kiến.

Nhận biết bệnh tăng huyết áp như thế nào?

Đặc điểm của huyết áp là có sự thay đổi khá lớn trong ngày và giữa các ngày trong tuần. Do đó, chẩn đoán tăng huyết áp phải dựa vào việc đo huyết áp nhiều lần tại các thời điểm khác nhau.

Tất cả những người trưởng thành phải được đo huyết áp một cách thường quy ít nhất 5 năm một lần cho đến tuổi 80. Người có mức huyết áp bình thường vốn đã cao nên kiểm tra huyết áp mỗi năm 1 lần.

Cần kiểm tra huyết áp ngay khi bạn có một trong các dấu hiệu sau: Nhức đầu (thường là ở vùng sau gáy), xây xẩm, hồi hộp, mờ mắt, bất lực (ở nam giới), dễ mệt, dễ toát mồ hôi, yếu nửa người hay yếu một tay hoặc chân, đau ngực, khó thở, đi tiểu nhiều, tăng cân, dễ xúc động. Bạn có thể nhờ bác sĩ hoặc y tá đo huyết áp tại các phòng khám bệnh (huyết áp phòng khám), hoặc tự đo tại nhà, hoặc bằng máy đo tự động 24 giờ (Holter huyết áp).

Những điều cần lưu ý khi đo huyết áp tại nhà:

- Phương pháp này cho biết trị số huyết áp vào các ngày khác nhau và trong hoàn cảnh thực tế sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân, đặc biệt là tránh được “hiệu ứng áo choàng trắng” (tình trạng tăng huyết áp thường xuyên theo dõi huyết áp liên tục 24 giờ tại phòng khám trên một người vốn có huyết áp bình thường).

- Trị số huyết áp khác nhau giữa các lần đo là do sự thay đổi tự nhiên của huyết áp.

- Tránh đo quá nhiều lần làm bệnh nhân lo âu.

- Trị số bình thường của huyết áp tự đo tại nhà thấp hơn đo tại phòng khám bệnh.

Nên chọn máy đo huyết áp nào để sử dụng tại nhà?

Mặc dù huyết áp kế thủy ngân là máy đo huyết áp chính xác nhất nhưng việc tự sử dụng dụng cụ này tại nhà không được thuận tiện lắm, do đó bạn có thể sử dụng máy đo điện tử hoặc máy đo đồng hồ để đo huyết áp tại nhà. Những máy này đã được chứng minh là khá chính xác tuy nhiên mỗi 3-6 tháng một lần bạn nên kiểm tra độ chính xác của máy với các kết quả đo được bằng huyết áp kế thủy ngân. Không nên sử dụng các loại máy đo huyết áp như: máy đo ngón tay, vòng đeo tay điều hòa huyết áp vì kết quả đo được của các loại máy này không có ý nghĩa.

Tại sao cần phải điều trị bệnh tăng huyết áp cho dù bạn cảm thấy bình thường?

Đa số các bệnh nhân tăng huyết áp đều cảm thấy trong người hoàn toàn bình thường, và chỉ phát hiện được mình bị bệnh khi có những biểu hiện rõ rệt như nhức đầu, mờ mắt, chóng mặt, đánh trống ngực hoặc khi có các biến chứng nặng hơn như tai biến mạch máu não, đau thắt ngực… chính vì lẽ đó tăng huyết áp được gọi là Kẻ giết người thầm lặng. Ngoài ra cần lưu ý rằng nếu bệnh Tăng huyết áp không được điều trị hoặc điều trị không đầy đủ sẽ dẫn đến các biến chứng nguy hiểm (rối loạn nhịp tim, đột tử, suy tim, suy thận, mù lòa, liệt nửa người, hôn mê…).

Người bị bệnh tăng huyết áp không được phát hiện sớm tương tự như ngôi nhà bị mối xông. Khi biết nhà bị mối xông thì đã quá muộn, ngôi nhà của bạn đã bị hỏng, không còn sử dụng được nữa.

Mục đích của điều trị tăng huyết áp là giảm tối đa nguy cơ dài hạn bị các biến chứng tim mạch và tử vong cho người bệnh. Do đó khi biết bị tăng huyết áp bạn cần phải điều trị dù bạn cảm thấy trong người hoàn toàn bình thường.

Thay đổi lối sống: Biện pháp điều trị tăng huyết áp không dùng thuốc.

Bạn cần thay đổi lối sống đề phòng và điều trị bệnh tăng huyết áp. Thực hiện các biện pháp thay đổi lối sống một cách thích hợp trên tất cả các bệnh nhân, kể cả người có huyết áp bình thường cao và các bệnh nhân cần điều trị thuốc.

Bỏ hút thuốc lá: là biện pháp mạnh mẽ nhất để đề phòng các bệnh tim mạch và ngoài tim mạch. Những người bỏ hút thuốc lá trước tuổi trung niên có tuổi thọ không khác với những người cả đời không hút thuốc. Ngoài ra thuốc lá còn làm giảm tác dụng của một số thuốc điều trị bệnh tăng huyết áp.

Hạn chế uống rượu: uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ đột quỵ và giảm tác dụng của một số thuốc giảm áp. Không nên uống quá 20-30g rượu/ngày (tương đương với 0,03 lít) đối với nam giới và 10-20g rượu/ngày (0,02 lít) với nữ giới.

Chế độ ăn: ăn mặn là một yếu tố góp phần làm tăng huyết áp. Chế độ ăn giảm muối sẽ góp phần làm giảm huyết áp (giảm 4,7-5,8g muối trong khẩu phần ăn hàng ngày sẽ làm giảm huyết áp bình quân được 4-6 mmHg) và làm tăng tác dụng hạ áp của các thuốc điều trị tăng huyết áp.

Người bị tăng huyết áp nên tránh ăn mặn, tránh dùng các thực phẩm ướp muối đặc biệt là thức ăn chế biến sẵn, nên dùng các thức ăn có chứa nhiều kali, ăn nhiều hoa quả, nhiều cá, giảm chất béo và các thức ăn có chứa nhiều cholesterol.

Giảm cân và tập thể dục: Thừa mỡ trong cơ thể góp phần làm tăng huyết áp. Giảm cân sẽ giảm được huyết áp trên người thừa cân và có tác dụng tốt đối với các bệnh đi kèm như tiểu đường, rối loạn lipid máu… Tác dụng hạ áp của việc giảm cân cân có thể được nâng cao nếu bạn thực hiện đồng thời việc tăng cường tập thể dục, giảm cân, hạn chế uống rượu (ở những người nghiện rượu) và chế độ ăn giảm muối. Người bị tăng huyết áp nên thường xuyên tập thể dục ở mức vừa phải như đi bộ, chạy bộ, hoặc bơi lội trong 30 - 45 phút, 3-4 lần mỗi tuần. Mức độ tập luyện phải tùy thuộc vào tình trạng bệnh lý của người bệnh. Việc tập thể dục với những động tác nhẹ nhàng cũng giúp làm giảm huyết áp tâm thu từ 4-8 mmHg. Tuy nhiên, nên tránh các động tác vận động đẳng trương (gây co cơ kéo dài) như nâng tạ vì có thể gây tăng huyết áp. Nếu tình trạng tăng huyết áp chưa được kiểm soát, và bạn luôn ở trạng thái tăng huyết áp thể nặng thì không nên tập thể dục hoặc nên hoãn lại cho đến khi bệnh Tăng huyết áp được điều trị hiệu quả.

Nếu bạn bị tăng huyết áp thể nhẹ, biện pháp thay đổi lối sống trên đây có thể đủ để giúp hạ huyết áp xuống mức bình thường mà chưa cần dùng đến thuốc. Đối với một số người khác(những người bị tăng huyết áp thể nặng), những biện pháp này có thể giúp họ dùng ít thuốc hơn hoặc dùng thuốc với liều thấp để kiếm soát huyết áp.

Khi nào cần đến thuốc để điều trị bệnh tăng huyết áp?

Sau khi bạn thực hiện biện pháp ăn kiêng, luyện tập và các biện pháp điều trị không cần thuốc mà huyết áp của bạn vẫn không giảm, lúc đó cần dùng thuốc để kiểm soát huyết áp.

Một số điều cần lưu ý:

- Bệnh tăng huyết áp phải điều trị liên tục, lâu dài nên cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa thầy thuốc, bệnh nhân và gia đình trong quá trình điều trị nhiều năm, có thể suốt đời do đó bạn cần hiểu biết về bệnh, tuân thủ điều trị và tái khám đúng hẹn,.

- Số lượng loại thuốc, cách sử dụng: cần theo qui định chặt chẽ của bác sĩ, không được tự ý bỏ thuốc hoặc thay đổi thuốc.

- Mỗi khi cần thay đổi thuốc hay có triệu chứng khác thường trong quá trình dùng thuốc, hãy liên hệ với bác sĩ của bạn để được hướng dẫn cụ thể.

- Phải điều trị các yếu tố nguy cơ phối hợp như rối loạn lipid máu, tiểu đường.

- Tăng huyết áp là bệnh phải điều trị liên tục, kéo dài và thậm chí có thể suốt cuộc đời. Trong quá trình bạn uống thuốc, trị số huyết áp sẽ trở về mức bình thường, lúc đó bạn chỉ mới đạt được mục tiêu điều trị tăng huyết áp (giảm tối đa các nguy cơ dài hạn bị các biến chứng tim mạch và tử vong). Do đó bạn không được ngưng điều trị mà vẫn phải tiếp tục chữa bệnh theo hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa vì việc tự ý ngưng điều trị sẽ khiến huyết áp tăng cao lại ở mức trước khi điều trị hoặc thậm chí còn cao hơn và đây chính là thời điểm thường xảy ra các biến chứng tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ.

Điều trị tăng huyết áp có lợi ích gì?

- Tránh được các biến chứng tim mạch nguy hiển: đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy tim.

- Tránh được các biến chứng khác do bệnh tăng huyết áp gây ra: tai biến mạch máu não, suy thận và mờ mắt, thậm chí mù mắt.

- Tăng tuổi thọ của bạn.

- Tăng chất lượng cuộc sống của bạn.

- Giảm chi phí điều trị: vì nếu bạn không điều trị để xảy ra tai biến thì việc chữa trị các tai biến này sẽ tốn kém hơn rất nhiều cho cả gia đình bạn và xã hội.

Thu Trang

(Theo tài liệu Hội tim mạch học và Viện Tim Mạch Quốc gia Việt Nam)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét