Thứ Hai, 1 tháng 6, 2009

Tăng huyết áp, “kẻ giết người thầm lặng”

Tăng huyết áp, “kẻ giết người thầm lặng”

Bác Sĩ Nguyễn Hoàng Quân

Trên toàn thế giới, có khoảng 1 tỉ người bị tăng huyết áp. Tăng huyết áp, trước đây gọi là Cao huyết áp, thường diễn tiến khá âm thầm và ít khi được phát hiện sớm. Thậm chí, tăng huyết áp đôi khi chỉ được phát hiện khi người bệnh đến bệnh viện vì một biến chứng nào đó của nó. Vì thế, tăng huyết áp được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng”.

Tổng quan
Tăng huyết áp được chia làm hai loại, tăng huyết áp có nguyên nhân và tăng huyết áp không có nguyên nhân, còn được gọi là tăng huyết áp vô căn.
Tăng huyết áp có nguyên nhân thường chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (dười 5%). Những nguyên nhân có thể nhận biết là: bệnh thận mạn tính, bệnh mạch máu thận, u tủy thượng thận, bệnh cường aldosteron tiên phát, rối loạn thở trong giấc ngủ, sử dụng một số thuốc có liên quan hoặc gây ra tăng huyết áp, hội chứng Cushing (hội chứng này do u ở tuyến yên hay tuyến thượng thận làm tăng tiết cortisol gây tăng huyết áp), hẹp động mạch chủ, bệnh tuyến giáp hay tuyến cận giáp. Điều trị tăng huyết áp có nguyên nhân là giải quyết những vấn đề gây ra tăng huyết áp vừa kể trên.
Tăng huyết áp vô căn, y học thường gọi như thế vì cho đến nay chưa tìm được căn nguyên làm tăng huyết áp cho nhóm này. Với đà tiến bộ của y học, hy vọng rằng nguyên nhân tăng huyết áp sẽ sớm được tìm ra. Loại tăng huyết áp này chiếm một tỷ lệ rất lớn (trên 95%), đến nỗi, khi nhắc đến tăng huyết áp, thường là nói đến tăng huyết áp vô căn.
Tăng huyết áp là một bệnh nguy hiểm. Bởi vì nếu không điều trị hoặc điều trị không đúng, tăng huyết áp có thể gây ra tổn thương các cơ quan đích: phì đại thất trái, đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim, suy tim; đột quỵ hay cơn thiếu máu não thoáng qua; bệnh thận mạn tính; bệnh mạch máu ngoại biên; bệnh võng mạc.

Phân loại tăng huyết áp
Khi đo huyết áp, ta thường nghe thầy thuốc nói kết quả bằng 2 con số, ví dụ 120/70 mmHg (đọc là 120 trên 70 milimet thủy ngân). Số trên (trong ví dụ là 120 mmHg) là huyết áp tối đa (hay huyết áp tâm thu) biểu thị cho áp lực mà tim bơm máu vào động mạch. Số dưới (trong ví dụ là 70 mmHg) là huyết áp tối thiểu (hay huyết áp tâm trương) biểu thị cho tính đàn hồi của thành động mạch.
Dựa vào số đo huyết áp, y học ngày nay phân loại huyết áp như sau:
• Huyết áp bình thường: dưới 120/80 mmHg
• Tiền tăng huyết áp: 120-139mmHg/80-89mmHg
• Tăng huyết áp giai đoạn một:140-159/90-99 mmHg
• Tăng huyết áp giai đoạn hai: ≥ 160/≥100 mmHg
(chỉ cần có một trong hai số đo đạt được tiêu chuẩn của phân loại nào là đủ để đưa bệnh nhân vào phân loại tăng huyết áp ấy. Chẳng hạn, một người có huyết áp là 160/90 mmHg thì được xếp loại là tăng huyết áp giai đoạn hai).

Khi nào cần điều trị tăng huyết áp
Mục đích điều trị tăng huyết áp là làm giảm huyết áp cao, đưa huyết áp về trị số bình thường hoặc gần bình thường một cách ổn định. Trong điều trị tăng huyết áp, việc ổn định huyết áp rất quan trọng, giúp tránh hoặc làm chậm biến chứng của tăng huyết áp. Ngoài việc làm giảm huyết áp cao, mục đích điều trị tăng huyết áp còn là bảo vệ các cơ quan đích như não, tim, thận và mắt, tránh tổn thương cho các cơ quan này. Theo các nhà nghiên cứu, điều trị tốt tăng huyết áp sẽ làm giảm đột quỵ não khoảng 35%-40%, giảm nhồi máu cơ tim khoảng 20 – 25%, giảm suy tim khoảng hơn 50%.
Tất cả bệnh nhân có số đo huyết áp được xếp vào phân loại tiền tăng huyết nên được khuyến cáo thay đổi lối sống.
Tất cả bệnh nhân có số đo huyết áp ≥ 140/90 mmHg, ngoài việc thay đổi lối sống còn phải dùng thuốc điều trị tăng huyết áp.

Điều trị tăng huyết áp
1. Thay đổi lối sống: thay đổi lối sống là bước quan trọng trong dự phòng và điều trị tăng huyết áp. Bệnh nhân bị tăng huyết áp có thể áp dụng các biện pháp thay đổi lối sống dưới đây để làm giảm huyết áp cao.
Giảm cân khi có thừa cân hoặc béo phì. Một người được gọi là béo phì khi có Chỉ số khối cơ thể (BMI) lớn hơn hoặc bằng 30, gọi thừa cân khi có BMI nằm trong khoảng 25 – 29,9. BMI được hiểu nôm na là so sánh cân nặng với chiều cao của một người, công thức tính BMI là tỷ số giữa cân nặng (tính bằng kilogram) và bình phương chiều cao (tính bằng mét). Chẳng hạn, một người cao 1,60 mét và nặng 64 kg thì BMI = 64/1,6 x 1,6 = 25, nghĩa là bắt đầu thừa cân. Cố gắng đưa chỉ số khối cơ thể nằm trong khoảng 18,5 – 24,9. Khi giảm trọng lượng cơ thể 10 kg sẽ làm giảm huyết áp 5 – 20 mmHg.
Bỏ hẳn thuốc lá. Thuốc lá được xem là có liên quan với khá nhiều bệnh. Với bệnh tim mạch, thuốc lá là “kẻ thù” của thành mạch. Cho đến nay, bỏ thuốc lá có nhiều phương thức hỗ trợ, nhưng quan trọng nhất là ý chí của người hút thuốc.
Chế độ ăn. Ăn nhiều rau quả và các sản phẩm bơ sữa ít béo với thành phần giảm chất béo bão hòa và chất béo toàn phần. Thực hiện tốt điều này sẽ giúp làm giảm huyết áp 8 – 14 mmHg.
Giảm lượng natri (muối ăn) trong chế độ ăn. Mỗi ngày chỉ nên dùng tối đa 2,4 gam natri (khoảng một muỗng cà phê muối ăn) sẽ giúp giảm huyết áp 2 – 8 mmHg.
Tập thể dục. Tập thể dục đều đặn bằng nhiều cách. Đơn giản nhất là đi bộ hàng ngày, mỗi ngày 30 – 60 phút. Cũng có thể tập aerobic, tối thiểu 30 phút mỗi ngày, vài ngày mỗi tuần. Tập thể dục giúp giảm huyết áp 4 - 9 mmHg.
Giảm rượu bia. Mỗi ngày, đàn ông chỉ nên dùng tối đa 100 mL rượu mạnh hoặc 2 lon bia 330 ml hoặc 300mL rượu vang sẽ giúp giảm huyết áp 2 – 4 mmHg.jnc8.jpg
2. Thuốc điều trị tăng huyết áp
Có rất nhiều thuốc dùng để điều trị tăng huyết áp. Các thuốc này được chia ra làm nhiều nhóm khác nhau tùy bản chất hóa học hay phương cách tác động làm hạ huyết áp của chúng. Có thể kể ra là:
Thuốc lợi tiểu. Đây là những thuốc “xưa nhất” trong điều trị tăng huyết áp dù rằng cho đến nay nó vẫn còn được xem là thuốc “đầu tay” trong các khuyến cáo điều trị tăng huyết áp của các Hiệp hội Tim mạch uy tín trên thế giới.
Thuốc ức chế men chuyển. Nhóm thuốc này ngoài tác dụng hạ huyết áp còn có tác dụng bảo vệ tim. Tuy nhiên nhóm thuốc này có bất lợi là gây ho khan và đôi khi là nguyên nhân làm bệnh nhân phải đến khám ở phòng khám hô hấp.
Thuốc chẹn thụ thể angiotensin. Là thuốc đời mới, “cải tiến” của nhóm thuốc ức chế men chuyển. Chúng có đầy đủ tác dụng có lợi của thuốc ức chế men chuyển nhưng không có bất lợi gây ho và dĩ nhiên nó đắt tiền hơn thuốc ức chế men chuyển.
Thuốc ức chế beta. Đây là nhóm thuốc có tác dụng tốt và tương đối dễ chấp nhận về giá cả. Nhóm thuốc này ngoài tác dụng hạ áp còn có tác dụng làm chậm nhịp tim. Không được sử dụng cho người có bệnh hen suyễn.
Thuốc chẹn kênh calcium. Là nhóm thuốc ngoài tác dụng hạ huyết áp, còn có thể dùng trong nhiều mục đích khác.

Tóm lại, tăng huyết áp là một bệnh “âm thầm” gây tổn thương nhiều cơ quan đích. Điều trị tăng huyết áp bao gồm thay đổi lối sống và dùng thuốc. Bên cạnh đó, cần chú ý đến các yếu tố nguy cơ tăng huyết áp như béo phì, uống quá nhiều rượu, hút thuốc lá và tiền sử gia đình có nhiều người bị tăng huyết áp.

(theo SK&DS Cuối Tuần)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét